SERIES ĐỌC VỊ VĨ MÔ TRONG PHÂN TÍCH – VÀNG – CHỨNG KHOÁN – BĐS
Phần 2: Chính sách tiền tệ - tài khoá và kết hợp tiền tệ…
Tôi có một mảnh đất khá là rộng. Trên mảnh đất đó có tài nguyên, có con người, và từ đây ta bắt đầu hình dung ra một nền kinh tế thu nhỏ. Mọi thứ trong kinh tế thực chất xoay quanh việc: làm sao sử dụng nguồn lực hữu hạn (đất, lao động, vốn) để tạo ra nhiều giá trị nhất.
(Chi tiết ở đây:
– https://www.facebook.com/share/p/1BoK9iKvXQ/
Trước hết nhắc lai khung cở bản phân tích Vĩ mô đầu tư các lớp tài sản như sau:
(Đã có ở đây:
– https://www.facebook.com/share/p/18hfUF8oK4/
Phần 1: CHÚNG TA NẮM ĐƯỢC TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ VÀ CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ
Phần 2: GDP VÀ LẠM PHÁT (chỉ sổ cơ bản để phản ánh sức khỏe và hiện trạng của một nền kinh tế, là chỉ số báo sau xác nhận trạng thái của nền kinh tế từ đó Chính phủ thông qua chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ từ đó ảnh hưởng tới lãi xuất -> ảnh hưởng tới các lớp tài sản.
Phần 3: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ TỶ GIÁ (hính sách tiền tệ và những vấn đề liên quan như cơ chế cung tiền, hệ thống tổ chức Ngân hàng Trung ương, những công cụ của Chính sách Tiền tệ)
Phần 4: CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ SỰ PHỐI HỢP VỚI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ (Chính sách Tài khóa và những vấn đề liên quan như Chính sách Tài khóa bắt nguồn từ Học thuyết Keynes, thế nào là Chính sách Tài khóa mở rộng và thắt chặt.,vấn đề về thu – chi Ngân sách Nhà nước và vấn đề nợ công của một quốc gia)
Phần 5: CÁC LỚP TÀI SẢN VÀ CHU KỲ ĐẦU TƯ (ác động của lãi suất đến các lớp tài sản Hiểu đươc tác động của lãi suất đến các lớp tài sản cụ thể như Tiền gửi, ngoại tệ, vàng và bất động sản)
Phần 6: LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH & XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ THEO HỒ SƠ RỦI RO.
—
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ VÀ CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ
Chúng ta phải hiểu thế nào là nền kinh tế, chúng ta đã biết nền kinh tế vận hành như thế nào, thế nào là vi mô, thế nào và vĩ mô và biết cơ bản về vai trò của chính phủ và tác động của chính phủ lên [HỘ GIA ĐÌNH và DOANH NGHIỆP] tức là chúng ta đã tìm hiểu cơ bản về phần A của HÌNH 1:
TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ (ECONOMIC) – Lý thuyết
Bây giờ chúng ta tìm hiểu rõ hơn về phần B (HÌNH 1)
KINH TẾ HỌC (ECONOMY) – Thực tế vận hành.
Chúng ta cần phân biệt rõ một điều rất quan trọng: kinh tế học và nền kinh tế là hai khái niệm khác nhau.
“Kinh tế học” (economics) là hệ thống lý thuyết, mô hình và cách tư duy để hiểu nền kinh tế.
Còn “nền kinh tế” (economy) là thực tế vận hành cụ thể của từng quốc gia.
Nói dễ hiểu:
Economy = Con người + Tổ chức + Tiền + Hàng hóa + Hành vi + Kết quả
Bao gồm:
1. Chủ thể thật
– Người dân
– Doanh nghiệp
– Ngân hàng
– Chính phủ
– Nhà đầu tư nước ngoài
2. Hoạt động thật
– đi làm
– sản xuất
– mua bán
– vay tiền
– đầu tư
– xuất khẩu
– nộp thuế
3. Kết quả tạo ra
– GDP
– thất nghiệp
– lạm phát
– lương tăng hay giảm
– giá nhà tăng hay giảm
Hiểu được sự khác biệt này là bước đầu tiên để không nhầm lẫn giữa lý thuyết và thực tiễn khi phân tích kinh tế vĩ mô.
Khi nói đến nền kinh tế Việt Nam, người ta dùng từ “Việt Nam economy”, chứ không dùng “Việt Nam economic”. Đây là cách phân biệt rất cơ bản giữa lý thuyết và thực tế vận hành của một quốc gia.
Vậy thì mỗ NỀN KINH TẾ được đo lường sức khỏe như thế nào? (HÌNH 1 Phần B)
Làm sao để biết một nền kinh tế đang ở trạng thái nào? Khi phân tích các nền kinh tế lớn như Mỹ hay châu Âu, chúng ta thường nhìn vào rất nhiều chỉ số như GDP, thu nhập quốc dân, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát hay chính sách của Chính phủ. Tuy nhiên, nếu nhìn một cách hệ thống, toàn bộ những yếu tố này có thể được gom lại thành hai nhóm chính.
Nhóm thứ nhất là các chỉ tiêu ĐỊNH LƯỢNG , tức là những con số có thể đo lường được như GDP, lạm phát, thất nghiệp hay lãi suất. Đây là những dữ liệu phản ánh trực tiếp trạng thái hiện tại của nền kinh tế.
Nhóm thứ hai là các yếu tố ĐỊNH TÍNH, tức là những thông tin không thể đo đếm bằng con số nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn đến kỳ vọng thị trường, ví dụ như phát biểu của FED (ngân hàng trung ương Mỹ), định hướng chính sách của Chính phủ hay các tuyên bố từ những nhà hoạch định chính sách.
Điểm quan trọng là nếu chỉ nhìn vào số liệu thì chúng ta mới chỉ thấy được những gì đã xảy ra. Còn để hiểu được xu hướng sắp tới, bắt buộc phải kết hợp với các yếu tố định tính. Nói cách khác, dữ liệu cho chúng ta biết hiện tại, còn kỳ vọng và thông tin chính sách mới quyết định tương lai của nền kinh tế.
Khi quan sát một nền kinh tế, về cơ bản chúng ta luôn tiếp cận từ hai nguồn thông tin chính: dữ liệu ĐỊNH LƯỢNG và TÍN HIỆU ĐỊNH TÍNH.
Chúng ta đã biết các sự kiện kinh tế có 2 loại:
Một là: SƯ KIỆN ĐỊNH LƯỢNG
Hai là: SỰ KIỆN ĐỊNH TÍNH
Ở đây SỰ KIỆN ĐỊNH LƯỢNG thể hiện CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ (vd: GDP, Lạm Phát , Quyết định chính sách lãi xuất)
Các chỉ số kinh tế thường dùng để đo lường 3 nhóm giá trị cơ bản:
Thứ nhất là khối lượng. Đây là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ được tạo ra, mua bán hay tiêu thụ. Ví dụ: số thùng dầu được khai thác, số tấn thép sản xuất, số căn hộ bán ra.
Thứ hai là giá. Đây là mức giá của một đơn vị sản phẩm tại một thời điểm nhất định. Ví dụ: giá một thùng dầu, giá một tấn gạo, giá một mét vuông bất động sản.
Thứ ba là giá trị. Đây là tổng giá trị thị trường của hàng hóa, được tính bằng:
Giá trị = Khối lượng × Giá
Ví dụ:
1 triệu thùng dầu × 70 USD/thùng = 70 triệu USD
10.000 căn hộ × 3 tỷ đồng/căn = 30.000 tỷ đồng
Hiểu đơn giản:
– Khối lượng cho biết bán được bao nhiêu
– Giá cho biết đắt hay rẻ
– Giá trị cho biết quy mô tiền tệ của thị trường
Trong phân tích kinh tế, cần tách rõ 3 yếu tố này vì nhiều khi giá trị tăng không phải do bán nhiều hơn, mà chỉ vì giá tăng. Ngược lại, có lúc sản lượng tăng nhưng giá giảm nên tổng giá trị không tăng mạnh. Đây là phần rất cơ bản khi đọc số liệu kinh tế.
Trong nhóm dữ liệu ĐỊNH LƯỢNG – tức là các CHỈ SỐ KINH TẾ – bản thân chúng cũng được phân tách thành ba loại với ý nghĩa hoàn toàn khác nhau.
Thứ nhất là các CHỈ SỐ DẪN DẮT, hay còn gọi là leading indicators. Đây là những chỉ số phản ánh kỳ vọng tương lai của nền kinh tế. Ví dụ điển hình là thị trường chứng khoán: khi thị trường tăng mạnh và vận động tích cực, điều đó thường cho thấy kỳ vọng của nhà đầu tư vào triển vọng tăng trưởng đang ở mức cao. Tất nhiên, trong ngắn hạn có thể tồn tại yếu tố đầu cơ hay “trading”, nhưng xét trên bình diện rộng, nhóm chỉ số này giúp chúng ta nhìn thấy tương lai trước khi nó thực sự xảy ra.
Thứ hai là các CHỈ SỐ ĐỒNG THỜI (coincident indicators). Đây là những chỉ số phản ánh trạng thái hiện tại của nền kinh tế, ví dụ như sản lượng công nghiệp, doanh số bán lẻ hay mức tiêu dùng. Nhóm này cho chúng ta biết nền kinh tế đang vận hành ra sao ở thời điểm hiện tại, thay vì dự báo tương lai.
Thứ ba là các CHỈ SỐ BÁO SAU, hay lagging indicators. Nghe có vẻ “đi sau”, nhưng thực chất đây lại là nhóm chỉ số cực kỳ quan trọng để xác nhận tình trạng của nền kinh tế. Hai biến số cốt lõi thường nằm trong nhóm này chính là tăng trưởng GDP và LẠM PHÁT. Đây là những kết quả đã “hình thành xong”, phản ánh những gì nền kinh tế đã trải qua trong một giai đoạn nhất định.
Điểm thú vị nằm ở chỗ: dù gọi là “chỉ số báo sau”, nhưng chúng lại đóng vai trò như nền tảng để đánh giá sức khỏe tổng thể của nền kinh tế. Nói cách khác, các CHỈ SỐ DẪN DẮT cho chúng ta kỳ vọng (tương lai), các CHỈ SỐ ĐỒNG THỜI cho chúng ta hiện tại, còn các chỉ số báo sau lại giúp xác nhận liệu những gì đã diễn ra có thực sự bền vững hay không.
Tóm lược:
1. CHỈ BÁO DẪ DẮT
Từc là chỉ số này nói cho chúng ta biết về kỳ vọng về những gì sắp xảy ra – tức là kỹ vọng của thị trường, tức là chỉ số này sẽ ra trước vì vậy chúng ta nên chúng ta sẽ nhìn vào và hiểu chỉ số này nó có ý nghĩa gì, và CHỈ SỐ DÃN DẮC này nó sẽ dự đoán tình trang tương lai của nền kinh tế và thường là ngắn hạn
2. CHỈ BÁO ĐỒNG THỜI:
Dấu hiệu của những gì đang xảy ra ở ngay trong hiện tại: chỉ báo đo lường sức khoẻ hiện tại của nền kinh tế
3. Và cuối cùng là CHỈ BÁO TRỄ:
CHỈ BÁO TRỄ này vồ cùng quang trọng tại vì nó đã xác nhận những gì đã xảy ra, tức là nó đã tương đối chắc chắn và nó cho NGƯỜI ĐIỀU HÀNH (ở đây đó là NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC hoặc là BỘ TÀI CHÍNH họ biết được thực trạng của nền kinh tế đã như thế nào sau khi một xu hướng đã được thiết lập
Để dễ nhớ chúng ta có thể chia:
1. CHỈ BÁO DẪN DẮT – TƯƠNG LAI
2. CHỈ BÁO ĐỒNG THỜI – HIỆN TẠI
3. CHỈ BÁO TRỄ – QUÁ KHỨ (các thông tin quá khứ của một nền kinh tế)
Chính vì vậy, khi phân tích vĩ mô một cách nghiêm túc, không thể chỉ nhìn vào một nhóm chỉ số riêng lẻ. Một nền kinh tế chỉ có thể được hiểu đúng khi chúng ta đặt cả ba nhóm chỉ số này vào cùng một bức tranh, từ kỳ vọng, hiện tại cho đến kết quả cuối cùng.
CHÚNG TA CÙNG XEM NHỮNG CHỈ BÁO CỦA NỀN KINH TẾ MÀ CHÚNG TA THƯỜNG XUYÊN NHẬN ĐƯỢC (Xem đầy đủ ở Hình 2, Chỉ số tô màu đỏ phổ biến ở việt nam, còn lại ở góc độ thế giới):
Với góc độ quốc tế, thì chúng ta thường xuyên nhận được chỉ báo đẫn dắt đó là:
– GIÁ NHÀ ĐANG BAO NHIÊU…
Chỉ số đồng thời như là:
– CHỈ SỐ SẢN XUẨT CÔNG NGHIỆ, …
Vầ cuối cùng là chỉ báo trễ:
Chỉ báo trể ở Việt nam chúng ta thấy như là
– GDP
– LẠM PHÁT
– Hoặc là LÃI SUẤT của các ngân hàng
Tức là nó đã ra rồi, nó đã phản ánh toàn bộ vấn đề nó đã xảy ra rồi thì lúc đấy những ngừoi làm chính sách họ mới sử dụng những thông tin này để thay đổi hoặc là tác động vào nền kinh tế.
Và quan trọng nhất là dựa vào các CHỈ SỐ TRỄ: CHÍNH PHỦ sẽ điều chỉnh CHÍNH SÁCH. Như chúng ta đã tìm hiểu, yếu tố QUAN TRỌNG NHẤT ở đây là [CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ và CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA]. Đây là hai công cụ vĩ mô cốt lõi để Nhà nước ổn định chu kỳ kinh tế và định hướng tăng trưởng.
Khi các CHỈ SỐ KINH TẾ trọng yếu như [GDP; LẠM PHÁT] thay đổi, CHÍNH PHỦ sẽ sử dụng [CÁC CHÍNH SÁCH] nhằm tác động lên ĐƯỜNG TỔNG CẦU, từ đó đưa nền kinh tế tiến về mức GDP KỲ VỌNG và LẠM PHÁT MỤC TIÊU.
Chính từ quá trình điều chỉnh đó, tác động mới lan truyền sang LÃI SUẤT, THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI, chi phí vốn, dòng tiền và giá tài sản. Nói cách khác, các RỦI RO và CƠ HỘI trên thị trường tài chính thường phát sinh sau khi kỳ vọng về chính sách bắt đầu thay đổi.
Nếu trước thời điểm các chỉ số được công bố, hoặc trước khi hành động chính sách được thực hiện, thì các RỦI RO đó chưa hiện hữu hoàn toàn; khi ấy chúng ta chỉ có thể PHÂN TÍCH, ĐỊNH GIÁ XÁC SUẤT và DỰ ĐOÁN KỊCH BẢN.
Thì đây chính là MỤC ĐÍCH lớn nhất của việc theo dõi các chỉ số: không phải chỉ để nhìn con số quá khứ, mà để dự báo PHẢN ỨNG CHÍNH SÁCH trong tương lai. Người hiểu được điều đó sớm hơn thị trường sẽ có lợi thế.
ĐỌC CÁC BẢN TIN CỦA TỔNG CỤC THỐNG KÊ CÓ THÔNG TIN NHƯ SAU
CPI tháng 11 năm 2025:
– So với tháng 11/2024 (YoY) tăng 3,58%
– So với tháng 1/2025 (YTD) tăng 2,6%
– So với tháng 10/2025 (MoM) tăng 0.45%
CPI 11 tháng 2025 so với (trung bình 11 tháng năm 2025 so với trung bình 11 tháng 2024):
– So với cùng kỳ năm 2024 (YOY average) tăng 3,29%
Vậy đâu là chỉ báo lạm phát chính thức của Việt Nam công bố? Tức là Lạm Phát do Quốc hội giao.
P/s: hệ thống chỉ số của việt nam khá là khó đọc, do vậy dưới đây là hướng dẫn để các bạn có hệ thống để đọc về chỉ số:
Cách đọc các chỉ số kinh tế (YoY – MoM – YTD – MTD)
Khi phân tích các chỉ số như CPI, GDP hay lạm phát, người ta thường so sánh theo hai nhóm chính: theo năm và theo tháng (HÌNH 30
1. SO SÁNH THEO NĂM
(1) Thứ nhất: YoY – Year on Year (so với cùng kỳ năm trước)
Đây là cách so sánh phổ biến nhất.
Hiểu đơn giản là so sánh cùng một thời điểm của hai năm khác nhau.
Ví dụ:
Tháng 12/2026 so với tháng 12/2025
Quý 2/2026 so với Quý 2/2025
Ngày 18/4/2026 so với 18/4/2025 (nếu có dữ liệu theo ngày)
(2) Thứ 2:Year on Year Average – YoY Ave.
YoY Average là cách so sánh mức trung bình của một giai đoạn trong năm nay với đúng giai đoạn đó của năm trước.
Hiểu đơn giản:
Thay vì so từng tháng, ta lấy:
-Trung bình của một giai đoạn năm nay
so với Trung bình đúng giai đoạn đó năm trước
(3) YTD – Year to Date (từ đầu năm đến hiện tại)
Từ đầu năm đến nay
Ví dụ:
Từ 1/1/2026 đến tháng 11/2026
2. SO SÁNH THEO THÁNG
(4) MoM – Month on Month (so với tháng trước)
So sánh giữa hai tháng liên tiếp.
Ví dụ:
Tháng 4/2026 so với tháng 3/2026
(5) MTD – Month to Date (từ đầu tháng đến hiện tại)
Là mức tích lũy từ ngày đầu tháng đến thời điểm hiện tại.
Ví dụ:
Từ 1/4/2026 đến 18/4/2026
Ý nghĩa:
Theo dõi diễn biến trong tháng
TÓM LẠI CÓ 5 LOẠI CHÍNH:
1. YoY: so với cùng kỳ năm trước
2. YoY Average: trung bình cùng kỳ
3. YTD: từ đầu năm đến nay
4. MoM: so với tháng trước
5. MTD: từ đầu tháng đến hiện tại
Quay lại ví dụ:
CPI tháng 11 năm 2025:
– So với tháng 11/2024 (YoY) tăng 3,58%
– So với tháng 1/2025 (YTD) tăng 2,6%
– So với tháng 10/2025 (MoM) tăng 0.45%
CPI 11 tháng 2025 so với (trung bình 11 tháng năm 2025 so với trung bình 11 tháng 2024):
– So với cùng kỳ năm 2024 (YOY average) tăng 3,29%
Mình có sơ đồ sau (HÌNH 4)
Giải thích cách đọc các chỉ số kinh tế tại Việt Nam
Để hiểu đúng các chỉ số như CPI, cần phân biệt rõ các khái niệm theo thời gian:
Month to Date (MTD) là mức thay đổi tính từ đầu tháng đến thời điểm hiện tại: Từ 01/11 đến 15/11
Month on Month (MoM) là so sánh giữa hai tháng liên tiếp, ví dụ tháng 11/2025 so với tháng 10/2025 tăng 0.45%
Year to Date (YTD) là mức tăng lũy kế từ đầu năm đến thời điểm hiện tại, Từ 01/01/2025 đến tháng 11/2025 tăng 2,6%
Year on Year (YoY) là so sánh cùng một thời điểm giữa hai năm, ví dụ tháng 11/2025 so với tháng 11/2024 tăng 3,58%
YoY average là so sánh mức trung bình của một giai đoạn trong năm nay với đúng giai đoạn đó của năm trước, Trung bình 11 tháng năm 2025 so với trung bình 11 tháng năm 2024. Đây cũng là chỉ tiêu quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô và thường được Quốc hội sử dụng để đánh giá mục tiêu lạm phát cả năm.
Tại sao GDP và lạm phát lại quan trọng? Khi phân tích một nền kinh tế, thực ra không cần quan sát quá nhiều biến số phức tạp; chỉ cần tập trung vào hai trụ cột cốt lõi là GDP và lạm phát cũng đã nắm được phần lớn bức tranh.
Bản chất của một nền kinh tế, nếu đơn giản hóa, chỉ xoay quanh hai mục tiêu: sản xuất ra nhiều hàng hóa – dịch vụ hơn (tăng sản lượng) và duy trì mức giá ở trạng thái hợp lý, ổn định. Chính vì vậy, hai thước đo quan trọng nhất để đánh giá nền kinh tế chính là GDP – đại diện cho quy mô và tốc độ tăng trưởng sản xuất, và lạm phát – đại diện cho sự biến động của mức giá.
GDP có thể được đo bằng GDP danh nghĩa và GDP thực, hai chỉ tiêu quan trọng để đánh giá quy mô và tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu muốn nhìn vào mức sống của người dân, thì điều quan trọng hơn cả không nằm ở con số GDP tuyệt đối của cả quốc gia, mà là GDP bình quân đầu người (GDP per capita). Chỉ tiêu này cho biết trung bình mỗi người dân tương ứng với bao nhiêu giá trị kinh tế, nên phản ánh sát hơn thu nhập và đời sống.
Lý do rất đơn giản: một quốc gia có thể có GDP lớn, nhưng nếu dân số quá đông thì phần “chia” cho mỗi người lại không cao. Ngược lại, khi GDP trên đầu người tăng, điều đó hàm ý rằng lượng của cải tạo ra trên mỗi cá nhân đang nhiều hơn, và về bản chất, mức sống đang được cải thiện. Vì vậy, mục tiêu dài hạn của bất kỳ chính phủ nào cũng không chỉ là tăng trưởng GDP, mà là nâng cao GDP trên đầu người một cách bền vững.
Ví dụ, với quy mô dân số khoảng 100 triệu người và GDP khoảng 400 tỷ USD, thì GDP bình quân đầu người chỉ ở mức hơn 4.000 USD. Con số này cho thấy chúng ta vẫn đang ở phía sau so với nhiều quốc gia trong khu vực như Thái Lan. Dù đây không phải là thước đo hoàn hảo, nhưng nó vẫn là chỉ báo rất quan trọng về mức sống và năng lực kinh tế.
Đối với lạm phát, cần hiểu đúng bản chất rằng lạm phát không đơn thuần là việc giá cả tăng lên, mà là tốc độ tăng của mặt bằng giá chung theo thời gian. Đây là điểm rất nhiều người thường nhầm lẫn. Việc một vài mặt hàng tăng giá riêng lẻ chưa chắc đã phản ánh lạm phát; điều kinh tế học quan tâm là liệu toàn bộ mức giá trong nền kinh tế đang tăng nhanh hay chậm, ổn định hay mất kiểm soát.
Ví dụ, nếu năm ngoái một tô phở có giá 40.000 đồng và năm nay tăng lên 42.000 đồng, mức tăng đó là 5%. Nếu nhiều hàng hóa và dịch vụ khác trong nền kinh tế cũng tăng với tốc độ tương tự, khi đó nền kinh tế có thể đang ghi nhận mức lạm phát khoảng 5%.
Lạm phát = (Giá năm nay – giá năm ngoái)/ Giá năm ngoái
Điều quan trọng là giá tăng nhẹ và có thể dự đoán được thường không phải tín hiệu tiêu cực. Trong một nền kinh tế tăng trưởng bình thường, thu nhập người lao động, doanh thu doanh nghiệp và nhu cầu tiêu dùng đều tăng dần theo thời gian, nên mức lạm phát thấp và ổn định là hiện tượng khá tự nhiên. Ví dụ, nếu tiền lương danh nghĩa tăng 7% mỗi năm trong khi lạm phát ở mức 3%, thì thu nhập thực tế của người dân vẫn được cải thiện.
Ngược lại, điều gây rủi ro lớn cho nền kinh tế là lạm phát biến động mạnh, thất thường và khó dự đoán. Chẳng hạn, năm nay lạm phát 12%, năm sau giảm còn 2%, rồi năm kế tiếp lại bật lên 15%. Trong môi trường như vậy, doanh nghiệp rất khó lập kế hoạch đầu tư dài hạn vì không biết chi phí nguyên liệu, lãi suất hay sức mua của người dân sẽ thay đổi ra sao. Người dân cũng có xu hướng giảm tiết kiệm hoặc chuyển sang nắm giữ tài sản khác để phòng ngừa mất giá tiền tệ.
Về bản chất, lạm phát không tốt cũng không xấu tuyệt đối; nó là hiện tượng gần như tất yếu trong một nền kinh tế đang tăng trưởng. Khi thu nhập tăng, nhu cầu tiêu dùng mở rộng và chi phí sản xuất thay đổi theo thời gian, mặt bằng giá thường có xu hướng nhích lên. Điều cốt lõi không phải là triệt tiêu lạm phát, mà là giữ nó ở mức ổn định, vừa phải và có thể dự đoán được. Đây là lý do nhiều ngân hàng trung ương lớn như Fed (Mỹ), ECB (châu Âu), Bank of England hay Bank of Canada thường đặt mục tiêu lạm phát quanh 2%, hoặc trong vùng 2%-4%, thay vì cố đưa nó về 0%.
Ví dụ thực tế, một quốc gia duy trì lạm phát ổn định khoảng 3% trong 10 năm thường tạo ra môi trường đầu tư tốt hơn nhiều so với quốc gia có lạm phát dao động giữa 0%, 10% rồi 18%. Nhà đầu tư không sợ mức giá tăng vừa phải; họ sợ sự bất định.
Khi đánh giá sức khỏe kinh tế vĩ mô, vấn đề không nằm ở chỗ giá có tăng hay không, mà nằm ở chỗ giá tăng với tốc độ nào, có ổn định hay không, và người dân – doanh nghiệp có thể dự đoán được hay không.)
Tóm lại, nếu phải chọn ra hai biến số quan trọng nhất để theo dõi một nền kinh tế, thì đó chính là GDP và lạm phát.
GDP phản ánh quy mô và tốc độ tăng trưởng của hoạt động sản xuất, còn lạm phát phản ánh mức độ ổn định của giá cả và sức mua đồng tiền. Dù thường được xem là nhóm chỉ số “báo sau”, hai biến số này vẫn là nền tảng để đánh giá sức khỏe thực sự của toàn bộ nền kinh tế.
Về dài hạn, nhiệm vụ cốt lõi của Chính phủ là nâng GDP bình quân đầu người, tức cải thiện thu nhập và mức sống của người dân, đồng thời giữ lạm phát ở mức ổn định, có thể dự đoán được. Khi thu nhập tăng và môi trường giá cả ổn định, niềm tin đầu tư sẽ được củng cố, doanh nghiệp mạnh dạn mở rộng sản xuất và nền kinh tế có thể tăng trưởng bền vững.
CHÚNG TA ĐÃ ĐI ĐẾN ĐÂU:
Phần 1: TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ VÀ CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ
1.1 Nền kinh tế vận hành như thế nào? Những thành phần cơ bản trong một nền kinh tế và những yếu tố định lượng và định tính trong nền kinh tế
– Định tính
– Định lượng
+ Chỉ báo trễ
+ Chỉ báo đồng thời
+ Chỉ báo Dẫn dắt
(chúng ta kết thúc phần này ở đây)
Phần tiếp theo:
1.2 Chính sách kinh tế và những tác động đến nền kinh tế Thảo luận về những chính sách kinh tế và những tắc động của những chính sách này đến nền kinh tế trong thực tiễn
– Tổng cung
– Tổng cầu
1.3 Vai trò của chính phủ Nắm được vai trò và những công cụ của chính phủ trong điều hành nền kinh tế
– Chính sách tài khóa
– Chính sách tiền tệ
1.4 Điều hành kinh tế vĩ mô tại Việt Nam Thảo luận về vấn đề Điều hành Kinh tế Vĩ mô tại Việt Nam
—-
Bài viết được trích xuất và lưu trữ từ trang chính thức CMB Investing – Cố Vấn Đầu Tư VPS. Xem bài viết gốc trên Facebook ↗
Mỗi ấn phẩm Tạp Chí CMB được chắt lọc từ những chiêm nghiệm sống và phân tích đầu tư thực chiến, nhằm đồng hành cùng các anh chị trên con đường tự do tài chính.