SERIES ĐỌC VỊ VĨ MÔ TRONG PHÂN TÍCH – VÀNG – CHỨNG KHOÁN – BĐS

Phát hành: 16/09/2026 • Chuyên mục: Tạp chí định kỳ CMB
31 phút đọc • ~6,183 từ
Tiến trình đọc: 0%

Phần 2: Chính sách tiền tệ – tài khoá và kết hợp tiền tệ – tài khoá trong phân tích
Khung phân tích chính: https://www.facebook.com/share/p/1HMPeQ2nsF/
Những bài viết trước chúng ta đã đi rất rõ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ:
– Hệ thống ngân hàng:
https://www.facebook.com/share/p/1B1uQWKovi/
https://www.facebook.com/share/p/1H43j6NDXz/
https://www.facebook.com/share/p/1PXM8gqM1d/
Thực hành: https://www.facebook.com/share/p/19Zu8PKSET/
https://www.facebook.com/share/p/1FjYZ5Akp9/

Nếu anh/chị thấy series này hữu ích, có thể ủng hộ cà phê qua:
Techcombank: 190019011995
Chủ tài khoản: Hoàng Bá Vinh
Hoặc anh/chị có thể đăng ký 22.000đ/tháng ở phần Đăng ký phía đầu trang Facebook để ủng hộ tôi tiếp tục thực hiện series này.
Ngoài ra, anh/chị có thể ủng hộ qua PayPal: paypal.me/vinmac1995
Cảm ơn anh/chị rất nhiều vì sự ủng hộ!
Contact: 0962721995 (zalo Vin Mac)
Nhắc lại: Tôi có một mảnh đất khá là rộng. Trên mảnh đất đó có tài nguyên, có con người, và từ đây tôi bắt đầu hình dung ra một nền kinh tế thu nhỏ trong một sơ đồ. Mọi thứ trong kinh tế thực chất xoay quanh việc: làm sao sử dụng nguồn lực hữu hạn (đất, lao động, vốn) để tạo ra nhiều giá trị nhất….
Đầu tiên chúng ta phải hiểu KINH TẾ VI MÔ là gì và KINH TẾ VĨ MÔ nghiên cứu cái gì. (Hình 1)
Bất kỳ một nền kinh tế nào cũng có 3 thành phần chính:
Các thành phần của nền kinh tế đó là
– HỘ GIA ĐÌNH
– CÁC CÁI DOANH NGHIỆP
– Và CHÍNH PHỦ để quản trị cái mối quan hệ giữa các thành viên ở trong Xã Hội [ HỘ GIA ĐÌNH, DOANH NGHIỆP] Chúng ta đã biết thì HỘ GIA ĐÌNH thì sẽ ĐI LÀM -> Vào THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG, và ở đây thì chúng ta sẽ có SỨC LAO ĐỘNG để cung cấp cho các DOANH NGHIỆP, và các DOANH NGHIÊP thì sẽ SẢN SUẤT ra HÀNG HOÁ và HỘ GIA ĐÌNH cũng sẽ tương tự như vậy, họ cũng sẽ TIÊU DÙNG – HÀNG HOÁ
Thế thì khi nền kinh tế càng ngày càng phát triển, phần thặng dư của HỘ GIA ĐÌNH bắt đầu sinh ra NHU CẦU ĐẦU TƯ.
Và từ đây, một định chế TÀI CHÍNH cực kỳ quan trọng bắt đầu ra đời. Khoảng từ thế kỷ 14, đặc biệt là tại các thành bang thương mại như Venice, Florence hay Genoa, ngành NGÂN HÀNG bắt đầu hình thành.
Lúc này, thương mại quốc tế phát triển rất mạnh, đặc biệt là các tuyến giao thương giữa Châu Âu và phương Đông. Các thương nhân cần rất nhiều vốn để tài trợ cho tàu thuyền, hàng hoá và các chuyến hải hành kéo dài nhiều tháng.
Vấn đề lúc đó là:
-HỘ GIA ĐÌNH có tiền dư nhưng không biết tự kinh doanh.
-Trong khi THƯƠNG NHÂN lại có cơ hội kinh doanh nhưng thiếu vốn.
Và NGÂN HÀNG ra đời để giải quyết chính bài toán này.
Cơ chế lúc đó rất đơn giản:
-HỘ GIA ĐÌNH gửi tiền vào NGÂN HÀNG để bảo quản và nhận lãi.
-NGÂN HÀNG tập hợp nguồn vốn đó rồi cho các THƯƠNG NHÂN vay để đi buôn bán.
-Khi thương nhân kinh doanh có lợi nhuận, họ sẽ trả lãi lại cho ngân hàng, và ngân hàng tiếp tục chia sẻ một phần lợi ích cho người gửi tiền.
Đây chính là nền móng đầu tiên của THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ.
Sau đó, tới khoảng thế kỷ 16-17, khi mô hình công ty cổ phần bắt đầu xuất hiện mạnh hơn, đặc biệt tại Hà Lan và Anh, thì HỘ GIA ĐÌNH không chỉ gửi tiền qua ngân hàng nữa mà bắt đầu có thể đầu tư trực tiếp vào các CÔNG TY.
Ví dụ nổi tiếng nhất là Dutch East India Company – một trong những công ty cổ phần đầu tiên trên thế giới. Người dân có thể góp vốn trực tiếp để cùng chia lợi nhuận từ hoạt động thương mại toàn cầu.
Và từ đó, THỊ TRƯỜNG VỐN bắt đầu hình thành.
Điểm khác biệt cốt lõi giữa THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ và THỊ TRƯỜNG VỐN nằm ở:
-CẤU TRÚC KỲ HẠN
-và mức độ BẤT ĐỐI XỨNG THÔNG TIN.
-THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ thường là vốn ngắn hạn, mức độ an toàn cao hơn vì có ngân hàng đứng giữa kiểm soát rủi ro.
-Còn THỊ TRƯỜNG VỐN là đầu tư dài hạn, lợi nhuận kỳ vọng cao hơn nhưng rủi ro cũng lớn hơn vì nhà đầu tư phải trực tiếp đối mặt với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
BẤT ĐỐI XỨNG THÔNG TIN thì nó rất đơn giản thôi. Có nghĩa là nếu như tôi không biết cho ai vay, và một anh nào đó đến vay tiền của tôi, thì tôi sẽ phải mất rất nhiều thời gian để tìm hiểu toàn bộ thông tin về anh ta: anh ta làm gì, kinh doanh ra sao, có khả năng trả nợ hay không. Và thôi, cách đơn giản nhất là tôi giao việc đó cho một đơn vị trung gian xử lý, đó chính là NGÂN HÀNG.
Còn nếu như các thông tin đã minh bạch hơn, ví dụ tôi có thể đọc được các bản CÁO BẠCH của doanh nghiệp, hiểu được doanh nghiệp đó đang làm gì, lợi nhuận ra sao, dòng tiền thế nào, thì khi đó tôi hoàn toàn có thể đầu tư trực tiếp vào doanh nghiệp đó thông qua THỊ TRƯỜNG VỐN.
Thị trường vốn là một cấu phần cực kỳ quan trọng của NỀN KINH TẾ và nó giải quyết vấn đề KỲ HẠN.
Bởi vì thông thường, ở THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ, khi chúng ta gửi tiền vào NGÂN HÀNG thì phần lớn sẽ là các khoản ngắn hạn, thường dưới 1 năm. Trong khi đó, doanh nghiệp lại cần vốn trung và dài hạn để xây nhà máy, mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ… và đây chính là vai trò của THỊ TRƯỜNG VỐN.
Và như vậy chúng ta sẽ nhìn thấy rằng THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH nằm ở “TRÁI TIM” của NỀN KINH TẾ.
Bởi vì cả ba chủ thể lớn đều tham gia vào thị trường tài chính:
-HỘ GIA ĐÌNH
-DOANH NGHIỆP
-và CHÍNH PHỦ
CHÍNH PHỦ cũng tham gia vào THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH để phát hành trái phiếu chính phủ, thu thuế từ HỘ GIA ĐÌNH và DOANH NGHIỆP nhằm tạo ra môi trường ổn định cho tăng trưởng kinh tế cũng như duy trì an ninh quốc gia.
Và chính vì vậy, sự phát triển của THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH luôn là một đặc trưng của các nền kinh tế phát triển.
Ở Việt Nam, chúng ta cũng nhìn thấy điều đó rất rõ:
-Thị trường NGÂN HÀNG bắt đầu phát triển mạnh từ khoảng những năm 2000 tới nay.
-Thị trường CỔ PHIẾU thì khoảng 10-15 năm gần đây phát triển rất nhanh.
-Thị trường TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ phát triển mạnh khoảng hơn 8 năm trở lại đây.
-Còn TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP thì khoảng 5 năm gần đây bắt đầu bùng nổ.
Và khi một hệ thống TÀI CHÍNH phát triển, nó sẽ giúp cho dòng vốn trong xã hội được luân chuyển hiệu quả:
từ HỘ GIA ĐÌNH -> DOANH NGHIỆP
từ CHÍNH PHỦ -> nền kinh tế
và ngược lại.
Khi dòng vốn được lưu chuyển hiệu quả thì điều quan trọng nhất của nền kinh tế sẽ được cải thiện, đó là NĂNG SUẤT.
Mà khi NĂNG SUẤT được nâng cao, nền kinh tế sẽ sản xuất ra nhiều hàng hoá hơn, từ đó thúc đẩy THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ cũng như các hoạt động XUẤT – NHẬP KHẨU.
(Hoặc có thể diễn giải như sau:
Và ở đây, chúng ta sẽ nhìn thấy vai trò cốt lõi của một hệ thống tài chính phát triển: đó là tối ưu hóa quá trình phân bổ vốn trong toàn bộ nền kinh tế.
Nói cách khác, hệ thống tài chính chính là cơ chế dẫn truyền nguồn lực từ khu vực có thặng dư vốn – chủ yếu là hộ gia đình và khu vực tiết kiệm – đến khu vực có nhu cầu sử dụng vốn hiệu quả hơn như doanh nghiệp, thị trường đầu tư và cả Chính phủ thông qua các công cụ tài khóa và trái phiếu.
Khi dòng vốn được lưu chuyển thông suốt với chi phí thấp hơn và hiệu quả cao hơn, nền kinh tế sẽ đạt được điều quan trọng nhất: sự gia tăng năng suất.
Và về bản chất, năng suất mới là nền tảng thực sự quyết định mức độ giàu có của một quốc gia.
Khi năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn được nâng cao, nền kinh tế có thể tạo ra nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn trên cùng một đơn vị nguồn lực. Điều đó thúc đẩy mở rộng sản xuất, gia tăng quy mô thị trường hàng hóa, đồng thời kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động thương mại, xuất khẩu và nhập khẩu.
Cuối cùng, toàn bộ quá trình này tạo thành một vòng tuần hoàn tích cực giữa tài chính, đầu tư, năng suất và tăng trưởng kinh tế – vốn là nền móng của mọi quốc gia công nghiệp phát triển trong lịch sử hiện đại)

Xem ở đây: https://www.facebook.com/share/p/1CorDuEzNJ/

Bài viết hôm này
CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ:

Phần cơ bản tổng quát: https://www.facebook.com/share/p/1ix3FtHGAq/
Chính phủ làm gì: https://www.facebook.com/share/p/1V8JMXjUHp/
Vì sao chính phủ phải can thiệp: https://www.facebook.com/share/p/1CCYHANNBW/

Chính sách tài khoá thì nó đơn giản hơn rất nhiều so với chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá của việt nam nó không ảnh hưởng rõ nét đến tài sản đầu tư nhưng mà nó sẽ có liên hệ ở cái phần lãi suất trái phiếu chính phủ, đầu tiền thì cái phần lý thuyết này các bạn hãy về đọc giúp mình đó là chính sách tài khoá là công cụ chính sách kinh tế vĩ mô nhằm tác động vào quy mô hoạt động kinh tế thông qua biện phát thay đổi chi tieu và/hoặc thuế của chính phủ

Và chúng ta hãy nhớ người đàn ông này (HÌNH 1) sau khủng hoảng năm 30 thì ông đã viết một cuốn sách để đời, năm 1936 là ô tập trung vào cái việc là tăng chi tiêu của chính phủ để tăng tổng cầu

Tăng chi tiêu chính phủ, giảm thuế để tăng cầu trên thị trường, và hôm trước thì chúng ta đã cùng nhau xem chính sách tài khoá nó chỉ có 2 thôi: (HÌNH 3)
Chính sách tài khoá thắt chặt
– Tăng thuế
– Giảm chi tiêu Chính Phủ
VS
Chính sách tài khoá mở rộng
– Giảm thuế
– Tăng chi tiêu Chính Phủ

Dùng mô hình tổng cung và tổng cầu thì chúng ta thấy rằng là AD1 là cầu 1, SRAS là cung 1
Hai dường này cặt nhau tại E1, nếu như mà họ nhìn thấy rằng là cái tăng trưởng GDP nó đang ở mức suy thoái Y1 thì họ sẽ tăng chi tiêu của chính phủ để đẩy đường cầu sang bên phải AD2 (đây là cầu 2), tức AD1->AD2 để làm sao tăng trưởng GDP (Y1->Y2) và kèm theo chấp nhận tăng trưởng mức giá (P1->P2) – Hình 4

Thế còn chính sách tài khoá thắt chặt:
Và chính sách tài khoá thắt chặt thì ngược lại, nếu như mà cái tăng trưởng GDP:
AD1 (cầu 1)
AD2 (cầu 2)
Họ sẽ giảm chi tiêu của chính phủ để đưa nó về cái điểm cân bằng B và ở đây giảm cả lạm phát (P2<P1) (Y2<Y1) – hình 5

Đây là lý thuyết lần trước mà tôi đã chia sẻ lần này chúng ta sẽ đi vào ngân sách nhà nước của việt nam
Thì đầu tiên là cái cơ sở đầu tiên chúng ta phải xem cái luật ngân sách nhà nước năm 2015 thì chúng ta sẽ nhìn thấy rằng là, chúng ta sẽ xem ngân sách nhà nước hôm nay chúng ta sẽ tách ra làm 2 phần, 1 phần là thu ngân sách hai là chi ngân sách và cuối cùng chúng ta sẽ xem cái quỹ ngân sách nhà nước gôm những khoản tiền hiện có cũng như là tiền vay trên tài khoản thì nó gồm những cái gì (HÌNH 6)

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC được chia thành 2 phần chính:
1. THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
-Thu thường xuyên( Thu thuế; Thu lệ phí ngoài thuế)
– Thu về vốn
– Viện trợ không hoàn lại
2. CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
– Chi thường xuyên
– Chi đầu tư phát triển
– Dự phòng
– Chi kết chuyển năm sau
Cách xem đồ thị
B1: https://widata.vn/
B2: Tìm kiếm: Thu thuế (YTD) (TỶ)
B3: Cài đặt đồ thị dưới dạng cột
B4: Thêm
Thu phí, lệ phí và thu ngoài thuế (YTD) (TỶ)
Thu về vốn (thu bán nhà ở, thu tiền sử dụng đất) (YTD) …
Viện trợ không hoàn lại (YTD) (TỶ)
Ta được đồ thị như hình 9

Thì chúng ta sẽ nhìn thấy đó là tỷ lệ thu ngân sách của việt nam đa phần là màu đỏ, nó chiếm khoảng độ 80% là thuế, viện trợ không hoàn lại dưới 10%

Và chúng ta có thể nhìn thấy các cái số liệu ở đây: 76% là thuế (năm 2022)
Năm 2022 thì chúng ta có tác động gì về thuế? Các bạn còn nhớ k (có chính sách gì về thuế các bạn còn nhớ không – giảm lãi suất VAT xuống 8%, thì chúng ta sẽ mất cái nguồn thu ở đấy để chúng ta hỗ trợ

Chúng ta hãy nhìn tại sao khi mà tôi hỏi đến cái VAT tại vì các bạn hãy nhìn cái cơ cấu của thuế, khi mà chúng ta đi vào cơ cấu thu thuế thì chúng ta sẽ nhìn thấy rằng là cái thuế giá trị gia tăng nó luôn luôn chiếm cái phần cao nhất 30% trong cơ cấu thu thuế chính vì vậy mà mỗi khi muốn hỗ trợ nền kinh tế thì rất là đơn giản thôi, nhìn thấy luôn đó là chỉ cần giảm thuế VAT phát là có thể hỗ trợ được ngay

Ở đây thì chúng ta có mấy phần đó là thuế thu nhập doanh nghiệp cũng là một cái tỷ trọng cao, thuế thu nhập cá nhân thì chỉ là phần nhỏ thôi, thuế chuyển quyền sử dụng đất chiếm tỷ trọng rất là nhỏ ở đây (xem hình)

Set up cơ cấu thuế:
B1: Wichart
B2 tìm kiếm
– Thuế thu nhập doanh nghiệp (YTD) (TỶ)
– Thuế thu nhập cá nhân (YTD) (TỶ)
– Thuế sử dụng phi nông nghiệp (YTD) (TỶ)
– Thuế môn bài (YTD) (TỶ)
– Lệ phí trước bạ (YTD) (TỶ)
– Thuế chuyển quyền sử dụng đất (YTD) (TỶ)
Cài đặt biểu đồ chúng ta được hình10
Nên nếu khi chính phủ của chúng ta mà muốn tăng cường chính sách tài khoá thì chúng ta có thể giảm thuế.

CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC: HÌNH 11
Có một cái điểm nó hơi tệ đó là số liệu chi ngân sách nhà nước của việt nam không có số liệu đẻ chúng ta có thể gọi là phân tích một cách kỹ càng xem là cái yếu tố nào nó tác động nhiều nhất , Nhưng mà tôi có thể chia sẻ đó là chi thường xuyên đang chiếm một cái tỷ lệ khá là cao (hình 12)
Để có được hình 12
B1: https://wichart.vn/
B2: Tìm kiếm
VN] – Tổng chi NSNN (Q)
[VN] – Chi NSNN thường xuyên (Q)
B4: Cài đặt lại biểu đồ
Tổng lại của ngân sách thì chúng ta sẽ có một cái biểu đồ là khi chúng ta kết hợp hai cái biểu đồ THU và CHI ta có biểu đồ HÌNH 13
Set up:
B1: https://wichart.vn/
B2: Tìm kiếm
– [VN] – Tổng thu NSNN và viện trợ (YTD)
– [VN] – Tổng chi NSNN (YTD)
Set up cách xem ta được biểu đồ hình 13
Rồi, chúng ta sẽ nhìn thấy ở đây,
Khi mà chúng ta so sánh màu tím là thu và màu đỏ là chi thì chúng ta sẽ thấy có sự thâm hụt và thặng dư, khi mà chúng ta nhìn vào thu và chi ngân sách như thế này thì chúng ta sẽ ra được một cái vấn đề đó là cái vấn đề NỢ CÔNG

Nợ công thì chúng ta sẽ có đủ số liệu để chúng ta phân tích, ở đây thì nợ công thì chúng ta sẽ có 3 cái nhóm chính
Thứ nhất là vay nợ chính phủ
Vay nợ chính phủ bão lãnh
Cũng như là vay nợ của chính quyền dịa phương

Thì khi mà chúng ta đưa cả 3 những yếu tố này vào 1 biểu đồ CHÚNG TA SẼ ĐƯỢC BIỂU ĐỒ HÌNH 14
Set up:
B1: https://wichart.vn/
B2:
– DƯ NỢ CHÍNH PHỦ
– DƯ NỢ CHÍNH PHỦ BẢO LÃNH
– DƯ NỢ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Sau đó cài đặt chúng ta được biểu đồ hình 14
Năm 2022:
Thì chúng ta nhìn thấy rằng là nợ công không vượt mức trần 65% GDP, như vậy câu hỏi rằng là nếu như mà được lựa chọn giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ thì bạn thấy chính phủ còn dư địa ở đâu. Tất cả các nhà phân tích thì cho rằng sau khi mà chúng ta đã tính lại tỷ lệ GDP, điều chỉnh vào năm 2020 thì chúng ta đang còn rất là xa cái trần 65% và như vậy tỷ lệ vay nợ của chúng ta rất là heathy, tức là rất là ok)

Có thể thấy nợ công kiểm soát tốt dưới mức trần quy định (theo Nghị quyết số 25/2016/QH14 mức trần là 65% GDP, sang chu kỳ Kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm theo Nghị quyết số 23/2021/QH15 được điều chỉnh về mức trần không quá 60% GDP). Đặt lên bàn cân giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, câu hỏi đặt ra là Chính phủ còn dư địa ở đâu? Đa phần các chuyên gia đều nhận định rằng sau khi Tổng cục Thống kê đánh giá lại quy mô GDP vào năm 2020, tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam còn cách rất xa mức trần pháp định. Điều này tạo dư địa tài khóa dồi dào, giúp cơ cấu nợ duy trì ở trạng thái rất lành mạnh và an toàn

Trong khoản nợ của chính phủ thì chúng ta phải phân tích một cái điểm vô cùng quan trọng đó là liệu chúng ta đang vay nợ nước ngoài nhiều hơn (nợ nước ngoài màu xanh), hay nợ trong nước (màu cam) – Hình 16
Set up:
B1: https://wichart.vn/
B2:
– [VN] – Dư nợ nước ngoài của Chính phủ (Y)
– [VN] – Dư nợ trong nước của Chính phủ (Y)

Thì một cái xu hướng của chúng ta gần đây là chúng ta tăng cường vay nợ trong nước thông quá thị trường trái phiếu chính phủ (càng ngày nó càng tăng và chúng ta giảm nợ nước ngoài)
Nên các vấn đề về tỷ giá nếu mà có rủi ro xảy ra thì cái rủi ro là không quá lớn đói với cả ngân sách tức là cái tỷ giá có tăng thì nó sẽ tác động ở đây (hình 16.A) Tuy nhiên cái tỷ trọng gần đây thì chúng ta càng ngày càng vay nợ nhiều bằng VNĐ thì nó sẽ không có một cái vấn đề gì quá lớn đối với cả tình hình vĩ mô của Việt Nam cả.

Rồi, nợ trong nước có nghĩa là chính phủ (bộ tài chinh sẽ chịu trách nhiệm chính) trong cáo việc phát hành các cái trái phiếu chính phủ và lượng mua trái phiếu chính phủ chủ yêu hiên tại là các công ty bảo hiểm cũng như là các cái ngân hàng, tại vì sao họ mua đó chính là cái cơ sở là cái tài sản để họ có thể thế chấp với cả ngân hàng nhà nước để vay ra khi mà họ sử dụng ở trên OMO

DƯ NỢ CHÍNH PHỦ BẢO LÃNH (hình 17):
Set up biểu đồ:
B1: Wichart.vn
B2:
– [VN] – Dư nợ trong nước Chính phủ bảo lãnh (Y)
– [VN] – Dư nợ nước ngoài Chính phủ bảo lãnh (Y)
Tỷ lệ nợ chính phủ bảo lãnh tỉ lệ nợ nước ngoài cũng như là nợ trong nước:

Thì khi mà chúng ta nhìn trên các biểu đồ thì chúng ta sẽ nhìn thấy, thứ nhất là tôi nhìn thấy tình hình ngân sách của việt nam, với góc nhìn của tôi thì cái số nó rất là đẹp và như vậy thì cái dư địa để mà gọi là đầu tư công hay là dư địa để mà tăng trưởng qua chính sách tài khoá nó còn rất nhiều, Nhưng không hiểu sao nhà nước lại rất thích dùng chính sách tiền tệ.
Góc nhìn:
chúng ta nhìn thấy rằng là khi mà chúng ta đã nhìn một cách sâu sắc rằng là để tăng trưởng kinh tế ngắn hạn (NGẮN HẠN) thì chúng ta sẽ phải tác động tổng cầu đúng k ạ.
Chúng ta sẽ có chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá.
mục tiêu của chính sách tiền tệ bao giờ cũng phải đảm bảo lạm phát thế còn chính sách tài khoá thì đảm bảo cho nợ công, Góc nhìn của mình thì cái dự địa ở Tài khoá nhiều hơn.

Vấn đề tiếp theo chúng ta sẽ kết hợp cả chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá thì đấy là chúng ta đi xem đường IS-LM (đây là nội dung của bài viết tiếp theo)

Mô hình IS-LM là một trong những mô hình nền tảng của kinh tế vĩ mô, dùng để giải thích mối quan hệ giữa thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ, lãi suất và sản lượng (GDP) trong ngắn hạn. Trong đó, đường IS đại diện cho trạng thái cân bằng trên thị trường hàng hóa, được xây dựng từ phương trình Y = C + I + G + (X − M). Khi lãi suất giảm, chi phí vay vốn giảm, doanh nghiệp có xu hướng tăng đầu tư, tổng cầu tăng và từ đó sản lượng GDP tăng, vì vậy đường IS có độ dốc âm. Ngược lại, đường LM đại diện cho trạng thái cân bằng trên thị trường tiền tệ, trong đó M/P = L(Y,r). Khi cung tiền thực tăng, thanh khoản trong hệ thống dồi dào hơn, lãi suất có xu hướng giảm và đường LM dịch chuyển sang phải; ngược lại, khi chính sách tiền tệ thắt chặt, thanh khoản giảm, lãi suất tăng và LM dịch chuyển sang trái. Giao điểm IS và LM xác định mức lãi suất và sản lượng cân bằng trong ngắn hạn. Dưới góc nhìn nhà đầu tư, mô hình này đặc biệt quan trọng vì giúp nối chính sách tiền tệ với chu kỳ kinh tế và thị trường tài sản: NHNN nới lỏng tiền tệ -> thanh khoản tăng -> lãi suất giảm -> chi phí vốn giảm -> đầu tư và tiêu dùng tăng -> tổng cầu và GDP tăng -> doanh thu, lợi nhuận doanh nghiệp có thể được cải thiện -> định giá tài sản được hỗ trợ. Ngược lại, khi NHNN thắt chặt tiền tệ, thanh khoản giảm và lãi suất tăng, chi phí vốn tăng, đầu tư và tổng cầu có thể suy yếu, từ đó tạo áp lực lên lợi nhuận và định giá doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhà đầu tư không nên chỉ nhìn vào lãi suất hiện tại mà cần quan sát hướng dịch chuyển của IS và LM, bởi lãi suất thấp trong một nền kinh tế có tổng cầu yếu không nhất thiết tạo ra một môi trường đầu tư tích cực, trong khi lãi suất tăng trong một nền kinh tế tăng trưởng mạnh chưa chắc đồng nghĩa với việc lợi nhuận doanh nghiệp suy giảm. Vì vậy, có thể sử dụng IS-LM như một khung tư duy để theo dõi chuỗi chính sách tiền tệ -> thanh khoản -> lãi suất -> đầu tư -> tổng cầu -> GDP -> lợi nhuận doanh nghiệp -> định giá tài sản, từ đó đánh giá nền kinh tế đang ở giai đoạn nào của chu kỳ và dòng tiền đang có xu hướng được nới lỏng hay thắt chặt.

📌 Nguồn Tham Khảo & Bản Quyền Nội Dung

Bài viết được trích xuất và lưu trữ từ trang chính thức CMB Investing – Cố Vấn Đầu Tư VPS. Xem bài viết gốc trên Facebook ↗

CMB Investing ⸺ Chia Sẻ Giá Trị Thực

Mỗi ấn phẩm Tạp Chí CMB được chắt lọc từ những chiêm nghiệm sống và phân tích đầu tư thực chiến, nhằm đồng hành cùng các anh chị trên con đường tự do tài chính.

0%
Giọng đọc Chị Google
Chị Google (Mặc định) • Đoạn 1/--
Bản Tin Thứ Bảy Hàng Tuần

Nhận Tạp Chí CMB Trực Tiếp Qua Hộp Thư

Đăng ký hoàn toàn miễn phí để không bỏ lỡ những bài viết chuyên sâu vào mỗi cuối tuần.

Miễn phí • Không spam • Hủy bất cứ lúc nào

Trang Chủ Podcast Khóa Học Thư Viện Học Viên