SERIES ĐỌC VỊ VĨ MÔ TRONG PHÂN TÍCH – VÀNG – CHỨNG KHOÁN – BĐS
Phần 2: Chính sách tiền tệ - tài khoá và kết hợp tiền tệ…
(Phần tiếp theo)
Phần này đề cập đến: khi giá xăng tăng, tiền lương tăng, chi tiêu công tăng, tăng cung tiền, giảm lãi xuất… thì ảnh hưởng thế nào… và vì sao
Ví dụ thực tế DẦU ĐAU ĐẦU? TẠI SAO GIÁ DẦU TĂNG LẠI ẢNH HƯỞNG MẠNH VÀ KHÓ XỬ LÝ?, bạn có thể đọc bình luận (I)
P/S: Vì bài viết fb hạn chế link nên tôi để link theo ký tự ở phần bình luận.
Nhắc lại, Tôi có một mảnh đất khá là rộng. Trên mảnh đất đó có tài nguyên, có con người, và từ đây tôi bắt đầu hình dung ra một nền kinh tế thu nhỏ trong một sơ đồ. Mọi thứ trong kinh tế thực chất xoay quanh việc: làm sao sử dụng nguồn lực hữu hạn (đất, lao động, vốn) để tạo ra nhiều giá trị nhất.
(Đã viết chi tiết, đọc phần bình luận – (A)).
Trước hết, cần đặt nền tảng bằng mô hình một nền kinh tế mở. Trong đó có ba chủ thể chính là Chính phủ, Hộ gia đình và Doanh nghiệp, tương tác với nhau thông qua các thị trường: thị trường lao động, thị trường tài chính và thị trường hàng hóa. Bên cạnh đó là yếu tố nước ngoài thông qua xuất nhập khẩu và dòng vốn quốc tế như FDI, FII. Toàn bộ các dòng chảy này tạo thành một hệ thống liên kết chặt chẽ, nơi vốn, lao động và hàng hóa liên tục luân chuyển.
Và trong ba chủ thể này, vai trò của Chính phủ là cực kỳ quan trọng, bởi vì Chính phủ có khả năng tác động, điều chỉnh hành vi của cả [ HỘ GIA ĐÌNH lẫn DOANH NGHIỆP ] thông qua chính sách [CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ]
Chính phủ có hai vai trò cốt lõi: thúc đẩy tăng trưởng dài hạn và ổn định kinh tế trong ngắn hạn. Trong dài hạn, mục tiêu là nâng cao năng suất và tăng GDP trên đầu người. Trong ngắn hạn, Chính phủ tác động vào nền kinh tế chủ yếu thông qua hai công cụ là chính sách tiền tệ (Ngân hàng Trung ương) và chính sách tài khóa (chi tiêu và thu ngân sách).
CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG
Ví dụ, khi một yếu tố THIÊN TAI, DỊCH BỆNH… xảy ra, nó không tác động thẳng ngay vào GDP hay lạm phát, mà đi theo một chuỗi lan truyền:
DỊCH BỆNH -> tác động đến tâm lý thị trường (fear / uncertainty) -> làm thay đổi hành vi tiêu dùng và đầu tư (ít tiêu dùng) -> ảnh hưởng đến tổng cầu (Aggregate Demand) -> từ đó tác động đến GDP và lạm phát (CPI)
PHẢN ỨNG CỦA NỀN KINH TẾ
Sau khi các chỉ số kinh tế GDP, CPI bị ảnh hưởng, chính phủ sẽ tác động điều tiết nền kinh tế thông qua:
– Chính sách tiền tệ (giảm lãi suất, bơm thanh khoản…)
– Chính sách tài khóa (tăng chi tiêu công, hỗ trợ kinh tế…)
Hai chính sách này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất, tỷ giá và thị trường trái phiếu – những biến số cực kỳ quan trọng đối với mọi loại tài sản.
Để cho a/c/e dễ hình dung, sườn nội dung sẽ xuyên suốt như sau:
Phần 1: CHÚNG TA NẮM ĐƯỢC TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ VÀ CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ
Phần 2: Hiểu kỹ, bóc tách và cách tính GDP VÀ LẠM PHÁT (chỉ sổ cơ bản để phản ánh sức khỏe và hiện trạng của một nền kinh tế, là chỉ số báo sau xác nhận trạng thái của nền kinh tế) để từ đó Chính phủ thông qua chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ điều chỉnh 2 chỉ số này cho đúng mục tiêu từ đó ảnh hưởng tới lãi xuất -> ảnh hưởng tới các lớp tài sản.
Phần 3: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ TỶ GIÁ (chính sách tiền tệ và những vấn đề liên quan như cơ chế cung tiền, hệ thống tổ chức Ngân hàng Trung ương, những công cụ của Chính sách Tiền tệ)
Phần 4: CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ SỰ PHỐI HỢP VỚI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ (Chính sách Tài khóa và những vấn đề liên quan như Chính sách Tài khóa bắt nguồn từ Học thuyết Keynes, thế nào là Chính sách Tài khóa mở rộng và thắt chặt.., vấn đề về thu – chi Ngân sách Nhà nước và vấn đề nợ công của một quốc gia)
Phần 5: CÁC LỚP TÀI SẢN VÀ CHU KỲ ĐẦU TƯ (ác động của lãi suất đến các lớp tài sản Hiểu đươc tác động của lãi suất đến các lớp tài sản cụ thể như Tiền gửi, ngoại tệ, vàng và bất động sản)
Phần 6: LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH & XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ THEO HỒ SƠ RỦI RO.
—
Phần 1: TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ VÀ CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ
PHẦN NÀY GỒM NHỮNG NỘI DUNG SAU:
1.1 Nền kinh tế vận hành như thế nào? Những thành phần cơ bản trong một nền kinh tế và những yếu tố định lượng và định tính trong nền kinh tế
– Định tính
– Định lượng
+ Chỉ báo trễ
+ Chỉ báo đồng thời
+ Chỉ báo Dẫn dắt
1.2 Chính sách kinh tế và những tác động đến nền kinh tế Thảo luận về những chính sách kinh tế và những tắc động của những chính sách này đến nền kinh tế trong thực tiễn
– Tổng cung
– Tổng cầu
1.3 Vai trò của chính phủ Nắm được vai trò và những công cụ của chính phủ trong điều hành nền kinh tế
– Chính sách tài khóa
– Chính sách tiền tệ
1.4 Điều hành kinh tế vĩ mô tại Việt Nam
************
Phần 1.1 Đã được viết chi tiết (Đọc bình luận – 😎
1.2 Chính sách kinh tế và những tác động đến nền kinh tế.
Phần này sẽ hiểu sâu hơn về mục tiêu của chính phủ, hiểu rõ đường cung là gì, đường cầu là gì. (RẤT KỸ)
MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CHÍNH PHỦ
– Tăng trưởng dài hạn
– Và ổn định ngắn hạn.
Về phần tăng trưởng dài hạn (xem toàn bộ HÌNH 1)
Chúng ta có công thức:
GDP trên mỗi nhân công = T x (Vốn vật chât trên mỗi lao động)^a x (Vốn nhân lực trên mỗi lao động)^b
(XEM HÌNH 1)
Dài hạn ở đây là những mục tiêu mang tính chất thập kỷ. Không phải câu chuyện một năm, hai năm, mà là 10 năm, 20 năm. Vậy trong dài hạn, Chính phủ muốn gì?
Rất đơn giản: tăng trưởng.
Hãy hình dung một trục thời gian, và trên đó là đường đi của GDP. Mục tiêu dài hạn của Chính phủ là làm sao để đường này đi lên theo thời gian (HÌNH 1). Nghĩa là càng về sau, hộ gia đình và doanh nghiệp sản xuất được nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn, năng suất cao hơn, quy mô nền kinh tế lớn hơn.
Đó chính là mục tiêu dài hạn của Chính phủ: một đường tăng trưởng GDP đi lên theo thời gian, và quan trọng hơn là tăng trưởng đó phải chuyển hóa thành mức sống cao hơn cho người dân, tức là GDP trên đầu người phải tăng một cách bền vững
Vậy làm thế nào để đạt được tăng trưởng dài hạn?
Muốn tăng trưởng một nền kinh tế trong dài hạn, Chính phủ không thể chỉ dựa vào việc mở rộng quy mô đơn thuần, mà phải tập trung vào một yếu tố cốt lõi: năng suất. Bởi vì dân số thì gần như cố định trong ngắn và trung hạn, chúng ta không thể tăng trưởng chỉ bằng cách “có thêm người”, mà phải làm sao để mỗi người tạo ra nhiều giá trị hơn.
Nói cách khác, tăng trưởng bền vững đến từ việc nâng cao năng suất lao động.
Trong kinh tế học vĩ mô, đặc biệt là nhánh Kinh tế học phát triển, người ta mô hình hóa điều này bằng một hàm rất cơ bản. Thu nhập trên mỗi lao động (không phải trên đầu người mà là trên mỗi người lao động) sẽ phụ thuộc vào ba yếu tố chính.
Thứ nhất là công nghệ – T(Technology). Khi công nghệ tốt hơn, cùng một lượng lao động nhưng có thể tạo ra nhiều sản phẩm hơn.
Thứ hai là vốn vật chất trên mỗi lao động, tức là mỗi người lao động có bao nhiêu máy móc, thiết bị để làm việc. Một công nhân với dây chuyền hiện đại sẽ tạo ra giá trị cao hơn rất nhiều so với lao động thủ công.
Thứ ba là vốn nhân lực, tức là trình độ, kỹ năng, giáo dục của người lao động. Một lực lượng lao động được đào tạo tốt sẽ có năng suất cao hơn, thích nghi nhanh hơn với công nghệ mới.
Ba yếu tố này kết hợp lại tạo thành động lực tăng trưởng dài hạn của một quốc gia.
Vì vậy, khi chúng ta nghe những thông tin như mở trung tâm R&D, phát triển công nghệ chip, hay tham gia vào các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, thì bản chất của những điều đó không nằm ở “tin tức”, mà nằm ở việc chúng góp phần nâng cao năng suất của nền kinh tế. Đó mới là điểm cốt lõi.
Nếu nhìn một cách thực tế, muốn phát triển dài hạn thì một quốc gia gần như chỉ có vài con đường quen thuộc: đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đầu tư vào giáo dục, và đầu tư vào nghiên cứu – phát triển (R&D). Đây là những khoản đầu tư không mang lại kết quả ngay lập tức, nhưng lại quyết định năng lực cạnh tranh trong 10-20 năm tới.
Và quan trọng nhất đó chính là năng suất lao động, để làm sao tăng trưởng được nền kinh tế.
Và bây giờ tôi sẽ đi vào vấn đề chi tiết để việc ổn định ngắn hạn.
(Để nền kinh tế tăng trưởng trong dài hạn, hằng năm Quốc hội sẽ đề ra mức tăng trưởng GDP và lạm phát mục tiêu)
Đường đầu tiên tôi muốn chia sẻ đó là đường tổng cầu (sau đó là TỔNG CUNG rồi chúng ta kết hợp lại sẽ giải thích các vấn đề VĨ MÔ một cách đơn gỉan):
Chúng ta quay lại một chút xíu để đỡ quên
Nền kinh tế của chúng ta có các thành viên:
1. HỘ GIA ĐÌNH
2. DOANH NGHIỆP
3. CHÍNH PHỦ
4. PHẦN DƯ DO XUẤT NHẬP KHẨU
Thế thì để đo TỔNG CẦU của một nền KINH TẾ thì rất là đơn giản thôi
TỔNG CẦU nó thể hiện mối quan hệ giữa MỨC GIÁ & LƯỢNG CẦU của NỀN KINH TẾ
NỀN KINH TẾ thì chúng ta có các đơn vị:
– C (consumer) : Nhu cầu của Hộ gia đình
– G (Goverment): Chi tiêu của chính phủ, nhu cầu của Chính phủ
– I (Investment): Nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp
– NX (Xuất – Nhập khẩu): Chênh xuất nhập khẩu.
(Tôi đã giải thích rất đầy đủ ở đây: Đọc phần bình luận (D)
TỔNG CẦU = C + I + G + NX
Và đường cầu được vẽ như thế này: HÌNH 4
Bao gồm:
Trục tung: Đường giá
Trục hoành: Đường số lượng (sản lượng, GDP)
Và ĐƯỜNG CẦU dốc xuống (xem hình 4):
Giá cao thì NHU CẦU của mọi người nó ít đi, rất đơn giản. Mức GIÁ trong NỀN KINH TÊ mà cao thì NHU CẦU chi tiêu của chúng ta đều ít đi:
Ví dụ giá 100 số lượng là 10.000 ; Giá 90 thì số lượng 15.000 (Hình 4)
Bây giờ dựa vào đường cầu của một NỀN KINH TẾ nó như thế này – HÌNH 4, chúng ta sẽ xem khi các yếu tố nó thay đổi; chẳng may một yếu tố nó thay đổi thì nó sẽ tác động như thế nào.
Thế thì chúng ta hãy nhìn ở đây:
Có các yếu tố:
– C: Hộ gia đình
– I: Đâu tư của doanh nghiệp
– G: Chính phủ
Chúng ta hãy xem từng yếu tố một
YẾU TỐ C – Hộ gia đình (chi tiêu của người dân)
Chúng ta có đường TỔNG CẦU như hình 4, nếu như tâm lý của người dân thay đổi: ví dụ như covid xảy ra thì ĐƯỜNG CẦU sẽ lệch sang BÊN TRÁI hay BÊN PHẢI? Và quan trọng là chúng ta trả lời được câu hỏi vì sao.
Khi covid xảy ra, thì tâm lý người dân ít chi tiêu – tức họ sẽ thu hẹp chi tiêu, đường cầu sẽ thu hẹp (tức là lệch sang bên trái) – hình 4
Chúng ta sẽ nhìn rất là đơn giản, nếu như mà tâm lý của người dân – tức là phần C:
– C: mà LẠC QUAN thì LỆCH SANG PHẢI : Đường CẦU tăng
– C: mà BI QUAN thì LỆCH SANG TRÁI: Đường CẦU giảm
(xem hình 4)
VÔ CÙNG ĐƠN GIẢN.
Tiếp tục:
Năm nay thị trường chứng khoán giầu hơn, tức là cái lượng tài sản của công ty, của mọi người nó tăng lên thì giá trị tài sản tăng, thì mọi ngừoi nghĩ đường cầu SANG TRÁI hay SANG PHẢI?
Rất đơn gian: ĐI SANG PHẢI
Tương tự: GIÁ TRỊ TÀI SẢN GIẢM: ở mỗi một mức giá chúng ta sẽ có NHU CẦU ít hơn
( Nhắc lại,
Ví dụ khi COVID xảy ra, tâm lý người dân trở nên thận trọng, hạn chế ra ngoài và thu hẹp chi tiêu. Khi đó, tiêu dùng giảm nên đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang bên trái.
Chúng ta có thể nhìn rất đơn giản, xét ở thành phần C (Consumption – tiêu dùng):
– Nếu người dân lạc quan, sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn, thì đường tổng cầu dịch sang phải.
– Nếu người dân bi quan, lo ngại tương lai và cắt giảm chi tiêu, thì đường tổng cầu dịch sang trái.
Đây là nguyên lý rất cơ bản.
Tiếp theo, giả sử năm nay thị trường chứng khoán tăng mạnh, giá trị tài sản của doanh nghiệp và người dân đều tăng lên. Khi cảm thấy giàu hơn, mọi người thường có xu hướng chi tiêu nhiều hơn. Vì vậy, đường tổng cầu sẽ dịch sang phải.
Tương tự, nếu giá trị tài sản giảm, người dân cảm thấy nghèo hơn và thận trọng hơn trong chi tiêu. Khi đó, ở mỗi mức giá, nhu cầu sẽ thấp hơn trước, nên đường tổng cầu sẽ dịch sang trái.
Đơn giản:
Khi tài sản của người dân giảm giá trị (nhà đất giảm, cổ phiếu giảm, tài khoản đầu tư giảm…), họ cảm thấy mình nghèo hơn nên sẽ giảm mua sắm và giảm chi tiêu.
Tức là:
-cùng một mức giá của hàng hóa
– nhưng người dân mua ít hơn trước
=> Nhu cầu tổng thể giảm)
Yếu tố tiếp theo: LƯỢNG VỐN trong xã hội (Tức là phần I: Phần doanh nghiệp):
– VỐN VẬT CHẤT: ví dụ như là doanh nghiệp đã đầu tư rất nhiều vào máy móc rồi
Câu hỏi: Tài sản nhiều rồi thì họ tiếp tục đầu tư không hay là đầu tư bớt đi?
– DOANH NGHIỆP CHI TIÊU ÍT -> TRƯỚC KIA CHI ÍT thì bây giờ nó sẽ TĂNG CHI -> ĐƯỜNG CẦU DỊCH SANG PHẢI
– TRƯỚC KIA ĐẦU TƯ NHIỀU VÀO NHÀ XƯỞNG RỒI THÌ BÂY SẼ GIẢM ĐẦU TƯ XUỐNG -> ĐƯỜNG CẦU dịch SANG TRÁI (Hình 5)
Hay hiểu một cách đơn giản:
Lượng vốn trong xã hội, tức là phần I (Investment – đầu tư của doanh nghiệp) trong tổng cầu.
Ở đây, vốn được hiểu là vốn vật chất, ví dụ như:
– máy móc
– nhà xưởng
– dây chuyền sản xuất
– phương tiện vận tải
– trang thiết bị phục vụ kinh doanh
Câu hỏi đặt ra là: nếu doanh nghiệp đã sở hữu rất nhiều tài sản và máy móc rồi, thì họ còn nhu cầu đầu tư thêm hay không?
Thông thường:
– Nếu trước kia doanh nghiệp đầu tư ít, vốn vật chất còn thiếu, công suất chưa đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất, thì hiện tại doanh nghiệp sẽ có xu hướng tăng đầu tư, làm tổng cầu tăng và đường tổng cầu dịch sang phải.
– Ngược lại, nếu trước kia doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều, máy móc còn dư thừa, công suất chưa sử dụng hết, thì hiện tại họ sẽ có xu hướng giảm đầu tư, làm tổng cầu giảm và đường tổng cầu dịch sang trái. (HÌNH 5)
Nói cách khác, đầu tư của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào lượng vốn hiện có. Khi vốn còn thiếu thì đầu tư tăng, kéo tổng cầu tăng. Khi vốn dư thừa thì đầu tư giảm, khiến tổng cầu suy yếu.
NÓI RÕ HƠN:
Ví dụ như HÀNG BẤT ĐỘNG SẢN, BĐS tồn kho mà nhiều, Vốn vật chất, hay hàng hoá nó đã có nhiểu thì họ sẽ có nhu cầu chi tiêu ít đi (I – INVESTMENT). Tại ví nó đã có sẵn cái nguồn VẬT CHẤT nên họ sẽ chi tiêu ít đi thì nó sẽ làm GIẢM TỔNG CẦU
Còn nếu như HÀNG HOÁ, hoặc là VỐN VẬT CHẤT, MÁY MÓC nó có ít thì họ phải chi tiêu nhiều hơn thì sẽ làm TĂNG TỔNG CẦU.
TIẾP THEO LÀ PHẦN G: CHÍNH PHỦ
VÀ HAI CÁI CHÚNG TA CẦN QUAN TÂM NHẤT
– CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ
– CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ
Chính sách tài khoá ở đây:
– CHI TIÊU CHÍNH PHỦ – ĐẦU TƯ CÔNG; GIẢM THUẾ
Thì đường cầu sẽ chạy thế nào:
Đầu tư công, hay giảm thuế – ngay lập tức ĐƯỜNG CẦU nó được bơm từ NGÂN SÁCH ra, nó sẽ dịch chuyển ngay sang PHẢI
Néu mà giảm GIẢM CHI hay là GIẢM THUẾ thì nó sé dịch sang trái. (HÌNH 6)
Dễ hiểu hơn:
Chính sách tài khóa
Trong mô hình tổng cầu, chính sách tài khóa gắn với G (Government Spending – chi tiêu chính phủ).
Bao gồm:
– Chi tiêu chính phủ hay đầu tư công
– Chính sách thuế (đặc biệt là giảm thuế)
Thì đường cầu sẽ vận động như thế nào?
Khi Chính phủ tăng đầu tư công hoặc giảm thuế, tiền từ ngân sách được bơm ra nền kinh tế, đồng thời người dân và doanh nghiệp có thêm nguồn lực để chi tiêu, nên đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang phải.
Ngược lại, nếu Chính phủ cắt giảm chi tiêu công hoặc tăng thuế, tổng cầu suy giảm và đường cầu sẽ dịch chuyển sang trái.
Một chính sách quan trọng nữa là chính sách tiền tệ:
– Nếu tăng cung tiền ở trong lưu thông thì nó sẽ sang trái hay sang sang phải?
Tăng cung tiền, mọi ngừoi có nhiều tiền hơn, giá rẻ hơn)
Câu hỏi đặt ra là: nếu tăng cung tiền trong nền kinh tế, thì đường tổng cầu sẽ dịch sang trái hay sang phải?
Rất đơn giản:
Khi lượng tiền trong lưu thông tăng lên, người dân và doanh nghiệp có nhiều tiền hơn để chi tiêu và đầu tư. Đồng thời, lãi suất thường có xu hướng giảm, khiến chi phí vay vốn rẻ hơn.
Khi đó:
– người dân tăng mua sắm
– doanh nghiệp tăng đầu tư
– thị trường sôi động hơn
Vì vậy, tổng cầu sẽ tăng và đường tổng cầu dịch sang phải.
Ngược lại, nếu giảm cung tiền, tiền trở nên khan hiếm hơn, lãi suất tăng lên, chi tiêu và đầu tư giảm xuống, nên đường tổng cầu sẽ dịch sang trái.
CHÚNG TA HÃY NHỚ: ĐÂY LÀ MÔ HÌNH KINH TẾ ĐỂ CHÚNG TA BIẾT, KHI MÀ CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ CÓ VẤN ĐỀ GÌ HOẶC CÁC BIẾN CỐ NÓ XẢY RA THÌ CÁC CHÍNH SÁCH NÓ SẼ CHẠY NHƯ THẾ NÀO:
Xem chi tiết ở mục 4. phần bình luận (E)
Và chúng ta biết là khi các biến cố xảy ra thì tâm lý của
– C: HỘ GIA ĐÌNH – HÌNH 4
– I: TÂM LÝ CỦA CÔNG TY – HÌNH 5
– Và các chính sách của chính phủ G – [HÌNH 6; HÌNH 7]
Nó sẽ tác động lên TỔNG CẦU của NỀN KINH TẾ và có sự thay đổi sang bên trái hoặc là bên phải.
BIẾN CỐ XẢY RA -> TÂM LÝ hoặc HÀNH XỬ của MỌI NGƯỜI -> TỔNG CẦU trong NỀN KINH TẾ -> THAY ĐỔI.
TRONG KINH TẾ VĨ MÔ:
Cac chủ thể
– HỘ GIA ĐÌNH (C)
– DOANH NGHIỆP (I)
– CHÍNH PHỦ (G)
– PHẦN DƯ XUẤT NHẬP KHẨU (NX)
Nó sẽ tạo nên TỔNG CẦU của một NỀN KINH TẾ
(Nếu lạc thì xem lại ở đây, phần bình luận (F): RẤT DỄ HIỂU)
VÀ MỖI KHI CÓ MỘT BIẾN CỐ, HOẶC MỘT CHỈ SỐ NÓ THAY ĐỔI SẼ GÂY RA TỪNG PHẢN ỨNG CỦA TỔNG CẦU:
– Nếu như mà người tiêu dùng C lạc quan thì họ sẽ chi tiêu nhiều hơn, bi quan chi tiêu ít hơn
– Nếu phần tài sản của họ tăng lên họ cũng chi tiêu nhiều hơn, tài sản giảm đi (chứng cháo hoặc BĐS giảm đi) họ sẽ chi tiêu ít hơn
– Các công ty I: nếu mà phần chi tiêu ít, nếu tài sản của họ ít thì họ sẽ chi tiêu nhiều và ngược lại
– Chính sách tài khoá của chính phủ (G) nếu như họ tăng đầu tư công thì làm tăng tổng cầu, giảm chi tiêu, tăng thuế thì sẽ làm giảm tổng cầu. Và chính sách tiền tệ, khi tăng cung tiền thì tổng cầu sang bên phải và nếu giảm cung tiền tìn sẽ kéo tổng cầu của cả nền kinh tế sang bên trái.
Tiếp theo chúng ta sẽ di đến đường TỔNG CUNG:
Tương tự: Tông cung nó cũng tương ứng MỨC GIÁ mà SẢN LƯỢNG được cung cấp trong NỀN KINH TẾ.
Dưới đây ta có đường cung: HÌNH 9
Giá (P-Price) cao hơn thì sẵn sàng tôi sẽ cung cấp sản lượng lớn hơn
Giá ít hơn thì tôi cung cấp sản lượng (Q) thấp)
(ĐÚNG QUY LUẬT KINH TẾ THỊ TRƯỜNG)
Bây giờ có một VẤN ĐỀ: Giá hàng hoá đầu vào tăng, rất là hay gặp đó là giá dầu. Thì ĐƯỜNG TỔNG CUNG dịch chuyển sang BÊN TRÁI hay BÊN PHẢI? VÍ SAO
– Khi một giá hàng hoá tăng thì chi phí sản xuất tăng và lợi nhuận bị giảm. chính vì vậy ở đây TỔNG CUNG SẼ dịch chuyển sang TRÁI (HÌNH 9)
– Ngược lại GIÁ DẦU GIẢM -> CHI PHÍ GIẢM -> LỢI NHUẬN TĂNG thì HỌ sẵn sàng TĂNG LƯỢNG CUNG ở cùng một MỨC GIÁ (Cung dịch chuyển sang PHẢI)
(Tại vì khi chi phí của một nền kinh tế giảm thì lượng CUNG TĂNG LÊN)
ĐÂY LÀ ĐƯỜNG CUNG CỦA MỘT NỀN KINH TẾ ẢNH HƯỞNG BỞI CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO, và kiến thức này vô cùng quan trọng khi chúng ta PHÂN TÍCH VĨ MÔ (khi GIÁ ĐIỆN TĂNG hay GÍA DẦU TĂNG thì nó sẽ ảnh hưởng đến TỔNG CUNG như thế nào.)
TIẾP TỤC LÀ :
– TIỀN LƯƠNG CỦA NHÂN CÔNG
Tiền lương mà giảm: Thì TỔNG CUNG sang BÊN PHẢI hay BÊN TRÁI ?
(Nếu chúng ta tư duy với tư duy của MỘT NGƯỜI SẢN XUẤT thì rất đơn giản)
– KHI TIỀN LƯƠNG GIẢM thì CHI PHÍ SẢN XUẤT giảm suy ra LỌI NHUẬN TĂNG =>TĂNG CUNG (HÌNH 10)
Tiền LƯƠNG TĂNG:
– Logic chúng ta ngược lại: CHI PHÍ SẢN XUẤT tăng -> LỢI NHUẬN GIẢM -> Với mỗi mức GIÁ sẽ GIẢM CUNG ĐI (Tức là đặt mình vào NHÀ SẢN XUẤT, khi lương tăng, chi phí tăng lên THÌ NHÀ SẢN XUẤT sẽ GIẢM SẢN XUẤT tức là GIẢM CUNG.
TIẾP TỤC:
– NĂNG XUẤT TĂNG (Ở ĐÂY TÔI XÉT ĐẾN NĂNG XUẤT CỦA CẢ NỀN KINH TẾ)
Nếu Năng Xuất tăng thì CHI PHÍ GIẢM -> LỢI NHUẬN TĂNG dẫn đến TĂNG CUNG (ĐƯỜNG CUNG sẽ đi sang BÊN TAY PHẢI)
– NĂNG XUẤT GIẢM:
Nếu năng xuất giảm-> CHI PHÍ TĂNG -> LỢI NHUẬN GIẢM -> GẢM CUNG
(Giải thích dễ hiểu hơn:
tiền lương của nhân công, đây là yếu tố ảnh hưởng đến tổng cung (AS).
Nếu đặt mình vào góc nhìn của nhà sản xuất, thì rất dễ hiểu.
Khi tiền lương giảm, chi phí thuê lao động giảm theo. Chi phí sản xuất thấp hơn sẽ làm lợi nhuận tăng lên. Khi lợi nhuận tốt hơn, doanh nghiệp có động lực mở rộng sản xuất và bán ra nhiều hàng hóa hơn ở mỗi mức giá. Vì vậy, tổng cung tăng và đường tổng cung dịch sang phải.
Ngược lại, khi tiền lương tăng, chi phí sản xuất tăng lên. Lợi nhuận bị thu hẹp, nên doanh nghiệp sẽ thận trọng hơn, giảm sản lượng hoặc không muốn cung ứng nhiều như trước ở cùng một mức giá. Khi đó, tổng cung giảm và đường tổng cung dịch sang trái.
Nói ngắn gọn:
Lương giảm -> chi phí giảm -> lợi nhuận tăng -> cung tăng
Lương tăng -> chi phí tăng -> lợi nhuận giảm -> cung giảm
Tiếp theo là năng suất lao động.
Nếu năng suất tăng, cùng một số lao động và thời gian nhưng doanh nghiệp tạo ra được nhiều sản phẩm hơn. Điều đó làm chi phí trên mỗi đơn vị hàng hóa giảm xuống, lợi nhuận tăng lên và doanh nghiệp sẵn sàng sản xuất nhiều hơn.
Vì vậy, năng suất tăng sẽ làm tổng cung tăng và đường tổng cung dịch sang phải.
Nói đơn giản:
Năng suất tăng -> chi phí giảm -> lợi nhuận tăng -> cung tăng.
RẤT LÀ DỄ HIỂU.
VÀ KHI CHÚNG TA ĐÃ CÓ ĐƯỜNG TỔNG CUNG, ĐƯỜNG TỔNG CẦU THÌ CHÚNG TA GHÉP NÓ LẠI THÌ NGƯỜI TA GỌI LÀ MÔ HÌNH TỔNG CUNG – TỔNG CẦU CỦA MÔT NỀN KINH TẾ.
TỔNG CUNG cắt TỔNG CẦU tại A. Tại thời điểm đó NỀN KINH TẾ CÂN BẰNG (HÌNH 12)
(Khi chúng ta đã có đường tổng cung (AS) và đường tổng cầu (AD), thì ghép hai đường này lại với nhau sẽ tạo thành mô hình Tổng cung – Tổng cầu (AD-AS) của một nền kinh tế.
Trong mô hình này:
– Đường tổng cầu thể hiện tổng lượng hàng hóa và dịch vụ mà người dân, doanh nghiệp, Chính phủ và nước ngoài muốn mua ở mỗi mức giá.
– Đường tổng cung thể hiện tổng lượng hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp sẵn sàng sản xuất ở mỗi mức giá.
Hai đường này sẽ cắt nhau tại điểm cân bằng A.
Tại điểm A, nền kinh tế đạt được:
– một mức GDP thực tế nhất định (sản lượng của nền kinh tế)
– một mức giá chung nhất định
Nói đơn giản, đây là điểm mà:
– lượng hàng hóa người mua muốn mua
– bằng với lượng hàng hóa doanh nghiệp muốn bán
Nên thị trường đạt trạng thái cân bằng.
—
TOBE CONTINUED
Bài viết được trích xuất và lưu trữ từ trang chính thức CMB Investing – Cố Vấn Đầu Tư VPS. Xem bài viết gốc trên Facebook ↗
Mỗi ấn phẩm Tạp Chí CMB được chắt lọc từ những chiêm nghiệm sống và phân tích đầu tư thực chiến, nhằm đồng hành cùng các anh chị trên con đường tự do tài chính.