SERIES ĐỌC VỊ VĨ MÔ TRONG PHÂN TÍCH – VÀNG – CHỨNG KHOÁN – BĐS
Phần 2: Chính sách tiền tệ - tài khoá và kết hợp tiền tệ…
Bầy giờ mình là CHÍNH PHỦ khi có các vấn đề xảy ra trong NỀN KINH TẾ nhưng mình để im, không tác động gì xem dân đen sống như thế nào cho nó vui 😊))
Hiểu về
4 TRẠNG THÁI CƠ BẢN CỦA NỀN KINH TẾ
1. Tăng trưởng + lạm phát thấp
--> Trạng thái lý tưởng
2. Tăng trưởng + lạm phát cao
--> Tăng trưởng nóng
3. GDP giảm + lạm phát giảm
--> Suy thoái + giảm phát (Deflation)
4. GDP giảm + lạm phát tăng
--> Đình lạm (Stagflation)
ĐÂY LÀ SERISES PHÂN TÍCH VĨ MÔ ÁP DỤNG TRONG ĐẦU TƯ (TIỀN GỬI, VÀNG, CHỨNG KHOÁN, BĐS)
Vẫn là vấn đề cơ bản:
Tôi có một mảnh đất khá là rộng. Trên mảnh đất đó có tài nguyên, có con người, và từ đây tôi bắt đầu hình dung ra một nền kinh tế thu nhỏ trong một sơ đồ. Mọi thứ trong kinh tế thực chất xoay quanh việc: làm sao sử dụng nguồn lực hữu hạn (đất, lao động, vốn) để tạo ra nhiều giá trị nhất.
https://www.facebook.com/share/p/1GenscUqBH/
Trước hết, cần đặt nền tảng bằng mô hình một nền kinh tế mở. Trong đó có ba chủ thể chính là Chính phủ, Hộ gia đình và Doanh nghiệp, tương tác với nhau thông qua các thị trường: thị trường lao động, thị trường tài chính và thị trường hàng hóa. Bên cạnh đó là yếu tố nước ngoài thông qua xuất nhập khẩu và dòng vốn quốc tế như FDI, FII. Toàn bộ các dòng chảy này tạo thành một hệ thống liên kết chặt chẽ, nơi vốn, lao động và hàng hóa liên tục luân chuyển.
Và trong ba chủ thể này, vai trò của Chính phủ là cực kỳ quan trọng, bởi vì Chính phủ có khả năng tác động, điều chỉnh hành vi của cả [ HỘ GIA ĐÌNH lẫn DOANH NGHIỆP ] thông qua chính sách [CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ]
Chính phủ có hai vai trò cốt lõi: thúc đẩy tăng trưởng dài hạn và ổn định kinh tế trong ngắn hạn. Trong dài hạn, mục tiêu là nâng cao năng suất và tăng GDP trên đầu người. Trong ngắn hạn, Chính phủ tác động vào nền kinh tế chủ yếu thông qua hai công cụ là chính sách tiền tệ (Ngân hàng Trung ương) và chính sách tài khóa (chi tiêu và thu ngân sách).
CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG
Ví dụ, khi một yếu tố THIÊN TAI, DỊCH BỆNH… xảy ra, nó không tác động thẳng ngay vào GDP hay lạm phát, mà đi theo một chuỗi lan truyền:
DỊCH BỆNH -> tác động đến tâm lý thị trường (fear / uncertainty) -> làm thay đổi hành vi tiêu dùng và đầu tư (ít tiêu dùng) -> ảnh hưởng đến tổng cầu (Aggregate Demand) -> từ đó tác động đến GDP và lạm phát (CPI)
PHẢN ỨNG CỦA NỀN KINH TẾ
Sau khi các chỉ số kinh tế GDP, CPI bị ảnh hưởng, chính phủ sẽ tác động điều tiết nền kinh tế thông qua:
– Chính sách tiền tệ (giảm lãi suất, bơm thanh khoản…)
– Chính sách tài khóa (tăng chi tiêu công, hỗ trợ kinh tế…)
Hai chính sách này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất, tỷ giá và thị trường trái phiếu – những biến số cực kỳ quan trọng đối với mọi loại tài sản.
https://www.facebook.com/share/p/1Ch3b3cFyq/
Để cho a/c/e dễ hình dung, sườn nội dung sẽ xuyên suốt như sau:
Phần 1: CHÚNG TA NẮM ĐƯỢC TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ VÀ CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ
Phần 2: Hiểu kỹ, bóc tách và cách tính GDP VÀ LẠM PHÁT (chỉ sổ cơ bản để phản ánh sức khỏe và hiện trạng của một nền kinh tế, là chỉ số báo sau xác nhận trạng thái của nền kinh tế) để từ đó Chính phủ thông qua chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ điều chỉnh 2 chỉ số này cho đúng mục tiêu từ đó ảnh hưởng tới lãi xuất -> ảnh hưởng tới các lớp tài sản.
Phần 3: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ TỶ GIÁ (chính sách tiền tệ và những vấn đề liên quan như cơ chế cung tiền, hệ thống tổ chức Ngân hàng Trung ương, những công cụ của Chính sách Tiền tệ)
Phần 4: CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ SỰ PHỐI HỢP VỚI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ (Chính sách Tài khóa và những vấn đề liên quan như Chính sách Tài khóa bắt nguồn từ Học thuyết Keynes, thế nào là Chính sách Tài khóa mở rộng và thắt chặt.., vấn đề về thu – chi Ngân sách Nhà nước và vấn đề nợ công của một quốc gia)
Phần 5: CÁC LỚP TÀI SẢN VÀ CHU KỲ ĐẦU TƯ (ác động của lãi suất đến các lớp tài sản Hiểu đươc tác động của lãi suất đến các lớp tài sản cụ thể như Tiền gửi, ngoại tệ, vàng và bất động sản)
Phần 6: LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH & XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ THEO HỒ SƠ RỦI RO.
Phần 1: TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ VÀ CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ
PHẦN NÀY GỒM NHỮNG NỘI DUNG SAU:
1.1 Nền kinh tế vận hành như thế nào? Những thành phần cơ bản trong một nền kinh tế và những yếu tố định lượng và định tính trong nền kinh tế
– Định tính
– Định lượng
+ Chỉ báo trễ
+ Chỉ báo đồng thời
+ Chỉ báo Dẫn dắt
1.2 Chính sách kinh tế và những tác động đến nền kinh tế Thảo luận về những chính sách kinh tế và những tắc động của những chính sách này đến nền kinh tế trong thực tiễn
– Tổng cung
– Tổng cầu
1.3 Vai trò của chính phủ Nắm được vai trò và những công cụ của chính phủ trong điều hành nền kinh tế
– Chính sách tài khóa
– Chính sách tiền tệ
1.4 Điều hành kinh tế vĩ mô tại Việt Nam
Phần 1.1 Đã được viết chi tiết (Đọc bình luận –
1.2 Chính sách kinh tế và những tác động đến nền kinh tế.
Phần này sẽ hiểu sâu hơn về mục tiêu của chính phủ, hiểu rõ đường cung là gì, đường cầu là gì. (RẤT KỸ)
–
Tiếp theo bài trước:
https://www.facebook.com/share/p/18St1Frc1W/
Khi chúng ta đã có đường tổng cung và đường tổng cầu, ghép hai đường này lại với nhau thì người ta gọi đó là mô hình Tổng cung – Tổng cầu (AD-AS) của một nền kinh tế.
Mô hình này cực kỳ quan trọng, vì chỉ khi có nó chúng ta mới có thể phân tích được các cú sốc và hiểu được Chính phủ tác động như thế nào thông qua chính sách.
Trong mô hình này, chúng ta có hai trục:
– Trục tung là mức giá (P) -> dùng để đo lạm phát
– Trục hoành là sản lượng (GDP) -> dùng để đo quy mô nền kinh tế
Và chúng ta có hai đường:
– Đường tổng cầu (AD)
– Đường tổng cung (AS)
Hai đường này cắt nhau tại điểm cân bằng A. Điểm A thể hiện trạng thái của nền kinh tế tại một thời điểm cụ thể:
A (GDP1; P1) -> tức là nền kinh tế đang sản xuất ra một mức sản lượng là GDP1 với một mức giá chung là P1.
Nói cách khác, điểm A chính là “ảnh chụp” của nền kinh tế tại thời điểm đó.
Bây giờ vấn đề quan trọng bắt đầu xuất hiện:
Trong mô hình này, cái gì có thể thay đổi?
Câu trả lời là: chỉ có hai thứ thay đổi được, đó là
– Đường tổng cầu
– Đường tổng cung
Còn mức giá (P) và sản lượng (GDP) không tự thay đổi, mà chúng chỉ là kết quả của sự dịch chuyển của hai đường này.
Khi phân tích, nguyên tắc quan trọng nhất là:
luôn tách từng yếu tố ra để nhìn độc lập
Ví dụ:
– Nếu chỉ có cầu thay đổi → ta giữ cung cố định để xem tác động riêng của cầu
– Nếu chỉ có cung thay đổi → ta giữ cầu cố định
Làm như vậy giúp chúng ta hiểu rõ bản chất:
mỗi cú sốc trong nền kinh tế thực chất chỉ là làm dịch chuyển TỔNG CẦU – AD hoặc TỔNG CUNG – AS, từ đó tạo ra một điểm cân bằng mới với GDP và mức giá mới.
Và bây giờ chúng ta ghép tất cả những gì đã biết từ bài viết trước: https://www.facebook.com/share/p/18oSsMwGWX/
Vào mô hình TỔNG CUNG – TỔNG CẦU này
SỐC CẦU:
Giả sử có một cú sốc xảy ra và cú sốc này tác động vào tổng cầu.
(Sốc Cầu có nghĩa là nó thay đổi ĐƯỜNG CẦU)
TH1: SỐC CẦU TIÊU CỰC – HÌNH 2
Bây giờ sẽ nói đến trường hợp SỐC CẦU TIÊU mà TIÊU CỰC:
Tôi lấy ví dụ COVID cho mọi người dễ hình dung (sau đó chúng ta sẽ phân tích vấn đề)
Ban đầu, nền kinh tế đang ở trạng thái cân bằng:
Đường Cung 1 cắt Cầu 1 tại điểm A -> (GDP1; P1). Đây là trạng thái bình thường của nền kinh tế.
Khi COVID xảy ra, điều đầu tiên bị ảnh hưởng không phải là cung, mà là tâm lý và hành vi chi tiêu:
-Người dân lo ngại thu nhập giảm
-Doanh nghiệp không chắc chắn về tương lai
-> Tất cả cùng cắt giảm chi tiêu
Khi toàn bộ nền kinh tế cùng giảm chi tiêu, về bản chất là:
Tổng cầu giảm → đường cầu dịch chuyển sang trái (Cầu 1- cầu cũ --> Cầu 2 – cầu mới)
Lúc này, đường Cầu 2 cắt Cung 1 tại điểm cân bằng mới B -> (GDP2; P2)
Quan sát mô hình:
– GDP2 < GDP1--> sản lượng giảm --> nền kinh tế rơi vào suy thoái
– P2 < P1 --> mức giá giảm --> áp lực giảm phát xuất hiện
Bản chất kinh tế ở đây là gì?
Khi cầu giảm:
– Doanh nghiệp bán không được hàng --> tồn kho tăng
– Doanh nghiệp buộc phải giảm sản xuất
– Giảm sản xuất --> giảm nhu cầu lao động --> thất nghiệp tăng
– Thất nghiệp tăng --> thu nhập giảm --> cầu tiếp tục giảm
Đây là vòng xoáy suy thoái (negative feedback loop)
Việc mức giá giảm (P2 < P1) không phải là “tốt”, mà phản ánh thực tế:
– Không có ai muốn mua
– Không có ai muốn sản xuất
Tức là nền kinh tế đang thiếu cầu nghiêm trọng
(Tình trạng này gọi là giảm phát hoặc giảm lạm phát – Disinflation/Deflation)
Bầy giờ mình là CHÍNH PHỦ nhưng mình để im, không tác động gì xem dân đen sống như thế nào cho nó vui😊))
– Chúng ta chưa vội tác động gì, chúng ta phân tích trước XEM LIỆU ĐỂ NỀN KINH TẾ TỰ VẬN HÀNH THÌ tình trạng của nó sẽ như thế nào. (quan sát xem GDP, lạm phát nó thay đổi thế nào)
TH2:
Lần này nó cũng sốc cầu như mà SỐC CẦU TÍCH CỰC:
Tương tự ta có HÌNH 3:
– Cầu 1 (màu xanh)
– Cung 1 (màu đỏ)
(Tôi ký hiệu xuyên suốt Đường Cầu màu xanh, Cung màu đỏ vì đường cung rất khó thay đổi cho a/c/e nhìn vào k cần đọc cũng hiểu.)
Có một lý do nào đó: ví dụ chúng ta gia nhập WTO cho nó máu
– Chúng ta có nhớ giai đoạn đấy không ạ: chúng ta gia nhập WTO thế là mọi người rất là vui vẻ chúng ta tăng ĐƯỜNG CẦU LÊN (Hình 3)
Tương tự ta có:
Ban nãy chúng ta có GDP1, mức giá P1. Bây giờ chúng ta có GDP2 mức giá P2
– Tức là ban đầu Cung1 cắt Cầu 1 tại điểm cân bằng cũ A (GDP1;P1)
– Bây giờ đường cầu mới (Cầu 2) cắt Cung1 tại điểm cân bằng mới B (GDP2;P2)
Lúc này nhìn vào Hình3 ta thấy: GDP2 > GPP1 (tức là tăng trưởng GDP) nhưng mà đồng thời mức giá cũng tăng (P2 > P1)
(Nhắc lại : Đường cung rất khó thay đổi, tôi đã nói rồi để thay đổi đường cung, một là phải do năng suất thay đổi hai là phải do tiền lương thay đổi rất là nhanh, ba là nó phải phụ thuộc vào giá đầu vào nữa- đã học phần trước về đường TỔNG CUNG, chúng ta không thể tác động nhanh vào đường CUNG, tất cả các biện pháp chúng ta lưu ý nó chỉ tăng được đường cầu thôi, nên tất cả các biện pháp đó nó chỉ là ỔN ĐỊNH NGẮN HẠN thế còn DÀI HẠN nó vẫn phải NĂNG SUẤT)
SỐC CUNG:
Khi chúng ta chuyển sang phân tích đường tổng cung, thì câu chuyện bắt đầu rõ hơn rất nhiều, vì lúc này chúng ta không còn nhìn vào hành vi chi tiêu nữa, mà nhìn thẳng vào chi phí sản xuất và năng suất của nền kinh tế.
Đầu tiên, ta xét trường hợp SỐC CUNG TÍCH CỰC (Hình 4).
Ban đầu nền kinh tế vẫn ở trạng thái quen thuộc: Cung 1 cắt Cầu 1 tại điểm cân bằng A, tương ứng với GDP1 và mức giá P1.
Bây giờ giả sử có một yếu tố làm cho chi phí sản xuất giảm mạnh, ví dụ rất đời thường là giá dầu giảm. Khi giá dầu giảm, chi phí vận chuyển giảm, chi phí đầu vào của doanh nghiệp giảm, từ đó doanh nghiệp sản xuất dễ hơn, biên lợi nhuận tốt hơn. Khi doanh nghiệp thấy “làm có lãi hơn”, họ sẽ mở rộng sản xuất.
Khi đó, tổng cung tăng lên và đường cung dịch chuyển sang phải (Cung 1 -> Cung 2).
Điểm cân bằng mới chuyển từ A sang B, với GDP2 và P2.
Lúc này nhìn vào kết quả:
GDP2 > GDP1 -> sản lượng tăng
P2 < P1 -> mức giá giảm
Đây là trạng thái gần như “trong mơ” của nền kinh tế: vừa tăng trưởng cao, vừa kiểm soát được lạm phát. Và bản chất của nó nằm ở một chữ thôi: năng suất hoặc chi phí được cải thiện. Đây là lý do vì sao những câu chuyện như công nghệ tốt hơn, logistics tốt hơn, hay nguồn nguyên liệu rẻ hơn luôn là tin cực kỳ tích cực cho dài hạn.
Ngược lại, ta xét sốc cung tiêu cực (Hình 5), và đây mới là thứ nguy hiểm.
Vẫn bắt đầu từ điểm A (GDP1; P1).
Nhưng lần này, thay vì chi phí giảm, chúng ta gặp một cú sốc làm chi phí tăng lên, ví dụ điển hình là giá dầu tăng mạnh.
Khi giá đầu vào tăng:
chi phí sản xuất tăng -> doanh nghiệp khó sản xuất hơn -> thu hẹp sản lượng
Khi đó, tổng cung giảm và đường cung dịch chuyển sang trái (Cung 1 -> Cung 2).
Điểm cân bằng mới chuyển từ A sang B (GDP2; P2).
Quan sát:
GDP2 < GDP1 -> sản lượng giảm
P2 > P1 -> mức giá tăng
Tức là nền kinh tế rơi vào một trạng thái rất “khó chịu”:
vừa tăng giá (lạm phát), vừa giảm sản lượng (suy thoái).
Hiện tượng này trong kinh tế học gọi là đình lạm (stagflation). Đây là trạng thái mà chính phủ “đau đầu” nhất, vì:
– Muốn chống lạm phát -> phải thắt chặt -> càng làm GDP giảm
– Muốn cứu tăng trưởng -> phải kích cầu -> lại làm lạm phát tăng thêm
TỔNG KẾT 4 TRẠNG THÁI NỀN KINH TẾ
Khi ghép lại, chúng ta sẽ có 4 trạng thái cơ bản:
1. Tăng trưởng + lạm phát thấp
--> Trạng thái lý tưởng
2. Tăng trưởng + lạm phát cao
--> Tăng trưởng nóng
3. GDP giảm + lạm phát giảm
--> Suy thoái + giảm phát (Deflation)
4. GDP giảm + lạm phát tăng
--> Đình lạm (Stagflation)
Và bây giờ chúng ta tà QUAN CHỨC CHÍNH PHỦ- chúng ta sẽ làm gì? nếu chúng ta chỉ tính trường hợp tiêu cực.
OK, Và bây giờ, giả sử chúng ta là quan chức chính phủ, chúng ta sẽ làm gì?
Nếu chỉ xét trường hợp tiêu cực, thì một điều rất rõ:
Chúng ta không phải ngồi để dự báo, mà phải đưa ra chính sách.
Vẫn câu quen thuộc:
Bầy giờ mình là CHÍNH PHỦ nhưng mình để im, không tác động gì xem dân đen sống như thế nào cho nó vui😊))
– Chúng ta chưa vội tác động gì, chúng ta phân tích trước XEM LIỆU ĐỂ NỀN KINH TẾ TỰ VẬN HÀNH THÌ tình trạng của nó sẽ như thế nào. (quan sát xem GDP, lạm phát nó thay đổi thế nào)
RỒI, BÂY GIỜ TÔI SẼ CHỈ RA HẬU QUẢ NẾU CHÍNH PHỦ KHÔNG CAN THIỆP.
Tôi sẽ vẽ ra “con đường hậu quả” cho bạn.
1. TRƯỜNG HỢP SỐC CẦU TIÊU CỰC (COVID) ( HÌNH 2 -> HÌNH 2.A)
Ban đầu:
– Nền kinh tế ở điểm A (GDP1, giá P1)
– Sau COVID -> rơi xuống B:
+ GDP giảm
+ Giá giảm
--> Đây là suy thoái.
Bây giờ ta vẽ thêm một đường:
• Đường cung dài hạn (màu tím) – thẳng đứng, đi qua A (mà tôi không muốn gọi nó là đường LRAS (Long-run Aggregate Supply) bạn có thể đọc thêm) HÌNH 2.A
--> Đây là mức GDP mà nền kinh tế có thể đạt được trong dài hạn
Nếu KHÔNG can thiệp:
Nền kinh tế sẽ không đứng yên ở B, mà sẽ tự điều chỉnh.
Nhưng nó điều chỉnh bằng cách nào?
Bây giờ NỀN KINH TẾ đang ở B (GDP2,P2), nếu CHÍNH PHỦ không can thiệp
Đường cung dài hạn này cắt đường CẦU 2 TẠI C: Khi đó nền kinh tế lúc này sẽ tự điều chỉnh về C (TỪ A --> C)
Từ C ta vẽ đường CUNG 2 (ở mỗi trạng thái của nền kinh tế ứng với đường cầu và đường cung tương ứng)
Ta có đường CUNG 2 ở đây (HÌNH 2.A) có nghĩa rằng
CUNG 1 nó chuyển thành CUNG 2 (Tổng cung dịch chuyển sang phải)
Đường cung mà dịch chuyển sang phía bên TAY PHẢI có nghĩa rằng là gì.
Ở bài viết trươc chúng ta đã biết đường cung mà dịch chuyển sang phải là TỐT HAY XẤU?
Ở đây, trường hợp này TIỀN LƯƠNG PHẢI GIẢM
(Ở bài viết trước: (https://www.facebook.com/share/p/14dDHh7nj3Z/) chúng ta đã biết : TIỀN LƯƠNG GIẢM --> CHI PHÍ SẢN XUẤT GIẢM --> LỢI NHUẬN KỲ VỌNG TĂNG --> DOANH NGHIỆP MỞ RỘNG SẢN XUẤT --> TỔNG CUNG NGẮN HẠN DỊCH CHUYỂN SANG PHẢI. Đơn giản suy ngược lại thôi: nếu trong nền kinh tế không có cải thiện về năng suất, không có công nghệ mới, không có vốn mới, mà tổng cung vẫn dịch chuyển sang phải, thì lý do gần như duy nhất là chi phí đầu vào phải giảm, và chi phí quan trọng nhất chính là tiền lương.
Trong bối cảnh một cú sốc như COVID, mà không có yếu tố dăhc biệt về năng xuất, chúng ta cứ để im -> dẫn đến suy thoái và chúng ta phải chấp nhận tiền lương của chúng ta giảm đi và dẫn điến hiện trạng là thất nghiệp
TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH LÀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 1929
Chính phủ không can thiệp --> nền kinh tế rơi tự do --> thất nghiệp cực cao --> mất rất nhiều năm để hồi phục.
Tác động chính: suy thoái kéo dài.
Sau cú sốc năm 1929, Chính phủ gần như không can thiệp trong giai đoạn đầu. Kết quả là nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái kéo dài suốt nhiều năm, tỷ lệ thất nghiệp lên tới hơn 20%, và phải mất gần một thập kỷ mới hồi phục.
TƯƠNG TỰ, chúng ta xem trường hợp SỐC CUNG TIÊU CỰC mà Chính phủ không tác động thì nền kinh tế sẽ đi về đâu (HÌNH 5->HÌNH 5.A)
Sốc CUNG TIÊU CỰC – HÌNH 5
Chúng ta vẫn làm như cũ: vẽ thêm đường năng suất dài hạn (LRAS) vào HÌNH 5 (đường này đi qua A và vuông góc với trục hoành).
Khi xảy ra sốc cung tiêu cực (ví dụ giá dầu tăng, chi phí đầu vào tăng), CUNG 1 dịch chuyển sang CUNG 2 (sang trái) -> nền kinh tế rơi vào trạng thái:
– Sản lượng giảm
– Mức giá tăng
Bây giờ, nếu không có bất kỳ can thiệp nào, nền kinh tế sẽ tự điều chỉnh.
Đường năng suất dài hạn sẽ cắt CUNG 2 tại điểm C. Từ điểm C, ta vẽ đường ĐƯỜNG CẦU 2
gióng sang trục giá – trục tung, ta có NỀN KINH TẾ mức giá mới P3 (cao hơn ban đầu P3>P1). Đơn giản là lạm phát tăng.
ĐÂY LÀ ĐIỂN HÌNH LÀ KHỦNG HOẢNG 2022.
--> CHÍNH VÌ HẬU QUẢ MÀ TÔI VỪA NÊU TRÊN MÀ BẮT BUỘC CHÍNH PHỦ PHẢI CAN THIỆP VÀO NỀN KINH TẾ THÔNG QUA:
-CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ
– CHÍNH SÁCH TIỀN TIỆ
(Sẽ được bóc tách chi tiết ở bài viết sau)
Trong kinh tế học, giai đoạn đầu người ta tập trung nghiên cứu hành vi của HỘ GIA ĐÌNH và DOANH NGHIỆP, xem họ ra quyết định như thế nào để tối ưu hóa lợi ích. Nhánh nghiên cứu này được gọi là kinh tế học VI MÔ
Ở thời kỳ đầu của kinh tế học, các nhà kinh tế gần như chỉ nhìn nền kinh tế thông qua hai chủ thể này. Họ đặt câu hỏi: doanh nghiệp hành xử thế nào là tối ưu, hộ gia đình tiêu dùng và tiết kiệm ra sao là hợp lý
Và trong bối cảnh đó, dưới ảnh hưởng của Adam Smith, xuất hiện một quan điểm rất quan trọng: vai trò của Chính phủ là cực kỳ hạn chế, nền kinh tế có thể tự vận hành thông qua cái gọi là “bàn tay vô hình”.
Hiểu đơn giản, “bàn tay vô hình” hàm ý rằng khi mỗi cá nhân theo đuổi lợi ích riêng của mình, thì tổng thể nền kinh tế vẫn có thể đạt được trạng thái cân bằng mà không cần sự can thiệp của Chính phủ. Chính vì vậy, trong giai đoạn đầu, người ta tin rằng nền kinh tế không cần Chính phủ can thiệp quá nhiều. Vai trò của Nhà nước nếu có thì chỉ dừng lại ở những chức năng cơ bản như bảo vệ lãnh thổ, duy trì trật tự, hoặc phát triển hạ tầng cơ bản. Còn lại, thị trường sẽ tự điều tiết.
Quan điểm này kéo dài trong một thời gian khá dài, cho đến khi thế giới chứng kiến một cú sốc lớn – đó là Đại Khủng Hoảng 1929. Sự kiện này đã làm sụp đổ hàng loạt ngân hàng, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao kéo dài, và điều quan trọng là nền kinh tế không tự phục hồi như những gì lý thuyết trước đó kỳ vọng.
Chính trong bối cảnh đó, đến năm 1936, John Maynard Keynes đã đưa ra một bước ngoặt trong tư duy kinh tế với tác phẩm Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ. Ông lập luận rằng thị trường không phải lúc nào cũng tự điều chỉnh về trạng thái tối ưu, và trong nhiều trường hợp, Chính phủ cần phải can thiệp chủ động.
Từ đây, kinh tế học vĩ mô ra đời. Trọng tâm không còn chỉ là hành vi riêng lẻ của từng hộ gia đình hay doanh nghiệp, mà là bức tranh tổng thể của toàn bộ nền kinh tế. Vai trò của Chính phủ được đặt vào trung tâm, với các công cụ như CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ và CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ nhằm ổn định chu kỳ kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và kiểm soát thất nghiệp.
Bài viết được trích xuất và lưu trữ từ trang chính thức CMB Investing – Cố Vấn Đầu Tư VPS. Xem bài viết gốc trên Facebook ↗
Mỗi ấn phẩm Tạp Chí CMB được chắt lọc từ những chiêm nghiệm sống và phân tích đầu tư thực chiến, nhằm đồng hành cùng các anh chị trên con đường tự do tài chính.