SERIES ĐỌC VỊ VĨ MÔ TRONG PHÂN TÍCH – VÀNG – CHỨNG KHOÁN – BĐS
Phần 2: Chính sách tiền tệ - tài khoá và kết hợp tiền tệ…
DUY THANH NGUYỄN – CÁI GÌ CŨNG BIẾT MỖI TỘI KHÔNG BIẾT MÌNH BIẾT CÁI GÌ.
(mình đc con e gửi cho mình khen A Duy đẹp trai vid hay giá trị mà thực ngồi cày mấy chục vid của ô này chả cái nào có tý giá trị nào – đúng tốn thời gian thật chứ, đọc Wiki còn hay hơn.)
Vậy CHỨNG CHỈ QUỸ LÀ GÌ ? ĐẦU TƯ THẾ NÀO, THỰC CHIẾN RA SAO, PHÂN BỔ THẾ NÀO…
Logic sơ khai nhất để giải quyết vấn đề là xem nguồn gốc từ đâu nó hình thành và phát sinh :)))
NGUỒN GỐC VẤN ĐỀ.
Chúng mình bắt đầu tìm hiẻu cách mà người ta dùng để kiếm tiền trên thị trường chứng khoán.
nhìn một cách hệ thống, chúng ta có thể chia thành hai nhóm rất rõ ràng: một nhóm là tự đầu tư – nơi nhà đầu tư trực tiếp đưa ra quyết định và nhóm còn lại là nhờ người khác đầu tư giùm – nơi chúng ta giao tiền cho một cơ chế hoặc tổ chức vận hành thay mình.
Nhóm 1: Tự đầu tư (Active Investing)
Nhóm 2: Nhờ người khác đầu tư (Passive Investing)
Rồi, chúng ta sẽ bắt đầu tìm hiểu về các phương pháp làm sao để “đánh bắt được cá”.
Ví dụ như cách đơn giản nhất là câu cá, rồi dùng lưới, bẫy, hoặc thậm chí là những phương pháp mang tính “độc hại” như chích điện hay đánh thuốc nổ chẳng hạn.
Nhóm đầu tiên – Active Investing – bao gồm các chiến lược như:
– Dividend Investing (Đầu tư ăn cổ tức – tức cổ)
– Growth Investing (Đầu tư tăng trưởng)
– Value Investing (Đầu tư giá trị)
– Stock picking (Cái này hay này, đọc ở dưới ^^)
Ở đây, nhà đầu tư phải phân tích doanh nghiệp, đọc báo cáo tài chính, dự đoán tương lai và ra quyết định mua bán (tức nhà đầu tư được đào tạo bài bản từ phân tích vĩ mô đến định giá công ty… (Phần này cũng đã có viết chi tiết ở bài viết cũ)
Tất cả những phương pháp này đều khá là phức tạp. Do đó, chúng ta có một nhóm đầu tư thứ hai mà mình tạm gọi một cách dân dã là nhờ người khác đầu tư giùm.
Nhóm 2: : Nhờ người khác đầu tư
– Mutual Fund
– Index Fund
– ETF
Quỹ đầu tiên là Mutual Fund, Hedge Fund (đây là các quỹ mà những nhà đầu tư chuyên nghiệp sẽ phân tích và đầu tư giúp chúng ta; họ sẽ chọn ra những công ty nào nên mua, công ty nào nên bán, cũng như thời điểm mua và bán).
• Tiếp theo là các quỹ Index Fund, những quỹ này thay vì chủ động phân tích và lựa chọn công ty để đầu tư thì chiến lược của họ là bám sát theo các chỉ số (Indices). Nói nôm na là họ sẽ bám sát theo tỷ lệ tăng trưởng của một thị trường nào đó.
• Và cuối cùng là các quỹ ETF, về cơ bản thì các quỹ này giống với Index Fund. Điểm khác biệt chính là chúng được niêm yết trên thị trường chứng khoán như một mã chứng khoán, do đó chúng có một số đặc tính tương tự như cổ phiếu.
Thì đó là cách phân nhóm cơ bản giữa tự đầu tư và nhờ người khác đầu tư giùm.
• Quỹ (fund) = một “rổ tiền” được quản lý chuyên nghiệp để đầu tư (cổ phiếu, trái phiếu…)
• Chứng chỉ quỹ (fund certificate) = “tờ giấy xác nhận” bạn sở hữu một phần của quỹ đó
ĐI VÀO CHI TIẾT:
Các phương pháp ở nhóm đầu tiên:
– Dividend Investing
– Growth Investing
– Value Investing
– Stock picking
Mình sẽ để dưới phần cmt.
Rồi vì phần này chủ yếu trả lời câu hỏi CHỨNG CHỈ QUỸ LÀ GÌ, ĐẦU TƯ NHƯ THẾ NÀO, THỰC CHIẾN RA SAO nên mình đi thẳng vào vấn NHÓM 2 (Phương pháp ở nhóm đầu tiên rất quan trọng tuy nhiên fb giới hạn ký tự nên đành để phần cmt)
Nhóm 2: : Nhờ người khác đầu tư
– Mutual Fund
– Index Fund
– ETF
Đầu tư vào Mutual Fund.
Cho tới giờ, chúng ta đã tìm hiểu được ba chiến lược đầu tư thường được sử dụng trên thị trường chứng khoán: Dividend Investing, Growth Investing và Value Investing.
Trước hết là Dividend Investing, chiến lược tập trung vào việc lựa chọn những cổ phiếu có tỷ lệ cổ tức cao, với kỳ vọng tạo ra dòng thu nhập thụ động đều đặn. Tiếp theo là Growth Investing, nơi nhà đầu tư tìm kiếm những công ty có tiềm năng tăng trưởng mạnh trong tương lai, với kỳ vọng lợi nhuận từ sự tăng giá của cổ phiếu sẽ đi cùng với tốc độ phát triển của doanh nghiệp. Và sau cùng là Value Investing, chiến lược tìm kiếm những công ty đang được giao dịch thấp hơn giá trị thực của chúng trên thị trường.
Tuy nhiên, cả ba chiến lược này đều không hề đơn giản. Ngay cả Dividend Investing, dù nghe có vẻ dễ tiếp cận nhất khi chỉ cần chọn các cổ phiếu có cổ tức cao, nhưng trong thực tế, nhà đầu tư vẫn phải phân tích rất kỹ về tình hình kinh doanh, lợi nhuận, và khả năng duy trì cổ tức trong dài hạn. Nếu lựa chọn sai, ví dụ như một công ty đang có cổ tức cao nhưng lại trong xu hướng suy giảm, thì rủi ro thua lỗ vẫn hoàn toàn có thể xảy ra.
Do đó, có thể thấy rằng tất cả các chiến lược đầu tư đều đòi hỏi kiến thức phân tích sâu, khả năng đánh giá doanh nghiệp và kinh nghiệm thực tế. Ngay cả những nhà đầu tư chuyên nghiệp, tốt nghiệp từ các trường kinh doanh hàng đầu thế giới và làm việc trong lĩnh vực tài chính mỗi ngày, vẫn có thể đưa ra những quyết định sai lầm.
Vậy câu hỏi đặt ra là: đối với những người mới bắt đầu, chưa có nhiều kiến thức phân tích, chưa có đủ thông tin và kinh nghiệm về doanh nghiệp, thì làm sao có thể đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn?
Từ câu hỏi này, chúng ta chuyển sang một hướng tiếp cận khác trong đầu tư, tạm gọi là chiến lược “nhờ người khác đầu tư giúp”, hay chính là đầu tư thông qua Mutual Fund (quỹ đầu tư).
Nghe qua thì có vẻ hơi buồn cười, vì tại sao việc “nhờ người khác đầu tư dùm” lại có thể xem là một chiến lược đầu tư.
Tuy nhiên, trong thực tế, đây lại là một trong những chiến lược đầu tư hiệu quả nhất (mình sẽ chia sẻ với các bạn về những ưu điểm của phương pháp này, cũng như lý do vì sao không chỉ mình mà rất nhiều nhà đầu tư kỳ cựu trên thế giới đều khuyên rằng đây là một hướng đầu tư phù hợp cho đại đa số những người không chuyên.)
Với hướng đầu tư này, chúng ta sẽ tìm hiểu phương pháp phổ biến nhất, đó là đầu tư thông qua các quỹ Mutual Fund.
Nhân tiện, mình muốn đính chính một chút trước khi đi tiếp. Thỉnh thoảng trong bài viết mình có gọi là “quỹ Mutual Fund”, nhưng cách gọi này thực ra không hoàn toàn chính xác, vì từ “Fund” đã có nghĩa là “quỹ” rồi. Do đó, cách gọi đúng hơn chỉ là “Mutual Fund”. Tuy nhiên, mình vẫn dùng cách gọi “quỹ Mutual Fund” cho dễ diễn đạt và dễ hiểu trong quá trình trình bày.
Rồi, bây giờ chúng ta có thể tưởng tượng như sau.
Giả sử mình đầu tư vào các công ty như Tesla, Apple ở giai đoạn đầu, và may mắn là mình đầu tư đúng thời điểm. Sau đó các công ty này đều tăng trưởng mạnh, nên lợi nhuận mình kiếm được từ các thương vụ đó khá tốt.
Khi nghe những câu chuyện như vậy, có thể các bạn sẽ nghĩ rằng: “Ông này đầu tư có vẻ rất mát tay”. Bên cạnh đó, các bạn thấy mình dành khá nhiều thời gian để phân tích, tìm kiếm thông tin, nghiên cứu doanh nghiệp trước khi ra quyết định đầu tư. Vì vậy, nhìn vào có thể cảm giác các khoản đầu tư khá chắc chắn (lưu ý đây chỉ là ví dụ minh họa).
Từ những yếu tố đó, các bạn có thể suy nghĩ rằng: nếu mình không có nhiều thời gian hoặc kiến thức, thì có thể gửi tiền cho người này đầu tư giúp. Mình chỉ cần đưa tiền, sau đó ông ấy đầu tư thay mình. Nếu ông ấy lời bao nhiêu phần trăm thì mình cũng hưởng bấy nhiêu phần trăm, và mình không cần phải làm gì thêm.
Ở chiều ngược lại, nếu có nhiều người có nhu cầu như vậy, thì người đó có thể đứng ra thành lập một quỹ đầu tư, nơi mọi người góp vốn vào và giao cho người quản lý quỹ thực hiện việc đầu tư.
Về cơ bản, đó chính là nguyên lý của quỹ Mutual Fund.
Ở Việt Nam, các quỹ Mutual Fund thường được gọi là quỹ tương hỗ.
Vậy câu hỏi tiếp theo là: làm sao để tạo ra lợi nhuận cho nhà đầu tư?
Câu trả lời là, người quản lý quỹ sẽ sử dụng chính kiến thức và kinh nghiệm của mình để đầu tư. Khi đã đóng vai trò là người quản lý quỹ, họ sẽ nhận một khoản phí từ nhà đầu tư, và vì vậy họ có trách nhiệm theo dõi thị trường, phân tích doanh nghiệp, cập nhật thông tin liên tục và đưa ra các quyết định đầu tư.
Những quyết định này bao gồm việc mua cổ phiếu nào, bán cổ phiếu nào, vào thời điểm nào, cũng như phân bổ tỷ trọng danh mục như thế nào. Ví dụ, có thể phân chia tỷ lệ đầu tư giữa Growth Investing và Value Investing tùy theo chiến lược của quỹ. Mục tiêu cuối cùng của người quản lý quỹ là tạo ra mức lợi nhuận cao hơn mức tăng trưởng trung bình của thị trường. Ví dụ, nếu thị trường trung bình tăng khoảng 10% mỗi năm, thì người quản lý quỹ sẽ cố gắng đạt mức lợi nhuận khoảng 15% đến 20% mỗi năm cho nhà đầu tư.
Tiếp theo, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu một số ưu điểm và nhược điểm của phương pháp đầu tư thông qua quỹ Mutual Fund.
Về phần ưu điểm, thì ưu điểm đầu tiên và dễ thấy nhất của chiến lược này là nhà đầu tư gần như không phải tự mình làm toàn bộ công việc phân tích và ra quyết định đầu tư, bởi vì đã có đội ngũ quản lý quỹ thực hiện những công việc đó thay cho họ.
Ưu điểm thứ hai là diversification, hay còn gọi là đa dạng hóa danh mục đầu tư. Có thể hiểu đơn giản là không bỏ tất cả “trứng vào một giỏ”.
Nếu một nhà đầu tư cá nhân tự đầu tư, họ thường không có quá nhiều vốn, nên chỉ có thể mua được cổ phiếu của một vài công ty. Tuy nhiên, với quỹ Mutual Fund, vì họ huy động vốn từ rất nhiều nhà đầu tư khác nhau, nên quy mô vốn rất lớn. Nhờ đó, họ có thể đầu tư vào rất nhiều công ty khác nhau cùng lúc.
Khi nhà đầu tư góp vốn vào quỹ, về bản chất họ đang sở hữu một phần của danh mục đầu tư đó. Điều này đồng nghĩa với việc họ gián tiếp sở hữu nhiều công ty cùng lúc, thay vì chỉ tập trung vào một vài mã cổ phiếu.
Nhờ sự đa dạng hóa này, nếu một vài công ty trong danh mục hoạt động không tốt thì sẽ có những công ty khác hoạt động tốt hơn để bù đắp lại phần thua lỗ. Điều này giúp giảm rủi ro tổng thể của danh mục đầu tư.
Đó là hai ưu điểm chính của quỹ Mutual Fund.
Yếu tố thứ hai mà chúng ta cần quan tâm là chi phí.
Như mình đã nói trước đó, vì người quản lý quỹ dành toàn bộ thời gian và kiến thức để thực hiện việc đầu tư thay cho nhà đầu tư, nên họ sẽ nhận một khoản phí gọi là Management Fee (phí quản lý).
Thông thường, khoản phí này dao động khoảng từ 1% đến 2% tổng giá trị tài sản mà nhà đầu tư giao cho quỹ quản lý.
Nghe qua thì có vẻ không nhiều, nhưng trong dài hạn, khi cộng dồn theo hiệu ứng lãi kép (compounding), đây lại là một chi phí rất đáng kể. Và chính vì vậy, phí quản lý cũng là một yếu tố quan trọng khi lựa chọn một quỹ Mutual Fund để đầu tư.
Ví dụ, nếu bạn đầu tư 1 tỷ đồng vào quỹ, thì với mức phí 2% mỗi năm, bạn sẽ phải trả khoảng 20 triệu đồng tiền phí quản lý mỗi năm.
Nếu trong một năm, quỹ hoạt động tốt và tạo ra lợi nhuận, chẳng hạn biến 1 tỷ thành 1,5 tỷ, tức là lời 500 triệu, thì khoản phí 20 triệu này có thể được xem là hợp lý.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các quỹ Mutual Fund thường thu phí quản lý bất kể kết quả đầu tư là lời hay lỗ.
Ví dụ, nếu trong một năm thị trường không thuận lợi, và danh mục đầu tư bị lỗ 10%, thì từ 1 tỷ đồng chỉ còn 900 triệu. Nhưng ngay cả trong trường hợp này, nhà đầu tư vẫn phải trả khoản phí quản lý 2% cho quỹ.
Điều này có nghĩa là chi phí quản lý là khoản chi phí cố định, không phụ thuộc vào việc quỹ có tạo ra lợi nhuận hay không.
Tuy nhiên, câu chuyện vẫn chưa dừng lại ở đó.
Bây giờ quay trở lại ví dụ ban đầu: giả sử mình đầu tư giúp các bạn từ 1 tỷ đồng lên 1,5 tỷ đồng, tức là lợi nhuận 50%. Trong trường hợp này, ngoài phí quản lý (Management Fee), các bạn còn phải trả thêm một loại phí nữa gọi là Performance Fee.
Performance Fee là khoản phí dựa trên hiệu suất đầu tư, tức là chỉ khi quỹ tạo ra lợi nhuận thì mới tính phí này.
Trong giới đầu tư, có một cấu trúc phí khá phổ biến gọi là “Two and Twenty”. Trong đó:
– “2” nghĩa là 2% phí quản lý hằng năm
– “20” nghĩa là 20% trên phần lợi nhuận tạo ra (Performance Fee)
Áp dụng vào ví dụ cụ thể:
– Các bạn gửi: 1 tỷ đồng
– Sau một năm: tăng lên 1,5 tỷ đồng
– Lợi nhuận tạo ra: 500 triệu đồng
Khi đó:
– Phí quản lý: 2% của 1 tỷ = 20 triệu đồng
– Phí hiệu suất: 20% của 500 triệu = 100 triệu đồng
Tổng phí phải trả là 120 triệu đồng.
Kết quả cuối cùng:
– Tài sản còn lại: 1,5 tỷ − 120 triệu = 1,38 tỷ đồng
– Lợi nhuận ròng thực nhận: 380 triệu đồng
Đây là cơ chế hoạt động cơ bản của nhiều quỹ Mutual Fund hoặc quỹ đầu tư chuyên nghiệp, nơi nhà đầu tư phải chia một phần lợi nhuận cho người quản lý quỹ khi họ tạo ra hiệu suất tốt.
Và bây giờ mình xin chia sẻ cho các bạn một chút về phương pháp đầu tư mà các Mutual Fund họ sẽ dùng để kiếm tiền cho các bạn.
Trước khi nói về phần này thì mình sẽ nói sơ qua về Passive Investing và Active Investing. Lát mình sẽ giải thích chi tiết hơn, còn ở đây thì mình sẽ giải thích nhanh cho các bạn.
Đầu tiên là Passive Investing, các bạn có thể hiểu đơn giản là chúng ta đầu tư theo kiểu bám sát với tỉ lệ tăng trưởng chung của thị trường. Mình lấy ví dụ đơn giản như vầy, ở Việt Nam mình có chỉ số VN30, tức là top 30 công ty có vốn hóa lớn nhất trên thị trường chứng khoán.
Thì để bám theo cái chỉ số này, các bạn có thể hiểu nôm na là khi đầu tư thì các bạn sẽ mua theo toàn bộ rổ VN30 này. Ví dụ có 30 công ty thì các bạn mua mỗi công ty một tỷ trọng tương ứng. Tất nhiên trong thực tế thì họ sẽ làm tối ưu hơn chứ không đơn giản như vậy, nhưng về bản chất thì ý tưởng là như vậy: không cần phải phân tích quá nhiều, chỉ cần bám theo danh mục của thị trường.
Còn Active Investing thì phức tạp hơn, đó là chúng ta phải liên tục phân tích, tính toán để quyết định nên mua công ty nào, thời điểm nào nên mua, thời điểm nào nên bán. Mục tiêu cuối cùng là làm sao tạo ra mức lợi nhuận cao hơn mức tăng trưởng của thị trường.
Đó là giải thích ngắn gọn về hai phương pháp Passive Investing và Active Investing, sau mình sẽ nói kỹ hơn.
Bây giờ chúng ta quay trở lại với câu chuyện về Mutual Fund.
Về mặt lý thuyết, một quỹ Mutual Fund có thể đầu tư theo cả hai hướng: Passive Investing và Active Investing. Tuy nhiên, trong thực tế thì hầu hết các quỹ Mutual Fund đều đi theo hướng Active Investing.
Nghĩa là các chuyên gia trong quỹ sẽ liên tục phân tích, theo dõi thị trường, và đưa ra quyết định mua hoặc bán cổ phiếu với mục tiêu là tạo ra mức lợi nhuận cao hơn mức tăng trưởng chung của thị trường. Ví dụ, nếu thị trường tăng trưởng trung bình khoảng 10% mỗi năm, thì mục tiêu của họ có thể là 15% hoặc 20% mỗi năm, thậm chí cao hơn.
Cái mức mục tiêu này trong ngành tài chính người ta gọi là Investment Goals. Đây là một khái niệm mà khi tìm hiểu về Mutual Fund các bạn sẽ thường gặp.
Tuy nhiên, đúng như tên gọi “Goals”, đây chỉ là mục tiêu, chứ không phải là cam kết. Không có gì đảm bảo rằng các quỹ sẽ đạt được mức lợi nhuận này.
Sẽ có những năm thị trường thuận lợi, quỹ đầu tư tốt và họ có thể vượt qua mức tăng trưởng của thị trường. Nhưng cũng sẽ có những năm hoạt động không tốt, khiến hiệu suất thấp hơn thị trường chung.
Và nếu nhìn trong dài hạn, khoảng 10 năm, 20 năm hoặc 30 năm, các số liệu thống kê thực tế cho thấy rằng phần lớn các quỹ Active Mutual Fund có xu hướng tạo ra mức lợi nhuận thấp hơn so với mức tăng trưởng trung bình của thị trường.
Bây giờ chúng ta đi đến một vài đặc điểm khác của Mutual Fund.
Đầu tiên là cách để đầu tư vào các quỹ này cũng sẽ hơi khác một chút so với việc các bạn mua cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Thông thường, các quỹ Mutual Fund sẽ có website riêng. Các bạn sẽ truy cập vào đó để mở tài khoản, làm thủ tục đăng ký và chuyển tiền vào quỹ để họ quản lý và đầu tư giúp các bạn.
Ví dụ ở Việt Nam có một số quỹ như VinaCapital.
Đây, các bạn xem ở đây là một ví dụ về quỹ VEOF:
https://vinacapital.com/vi/investment-solutions/onshore-funds/veof/
Các bạn thấy trên website của họ sẽ có phần đăng ký để mở tài khoản.
Ngoài ra, các bạn cũng có thể gọi điện trực tiếp cho quỹ, nhân viên của quỹ sẽ tư vấn và hướng dẫn các bước cần thiết.
Chính vì vậy, việc đầu tư vào Mutual Fund sẽ phức tạp hơn một chút so với việc mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Ví dụ, trên thị trường chứng khoán, khi muốn bán cổ phiếu, các bạn chỉ cần bấm vài nút trên điện thoại là có thể đặt lệnh bán ngay. Nhưng với các quỹ này, quy trình giao dịch sẽ nhiều bước hơn và mang tính thủ tục hơn.
Chính đặc điểm này vừa có thể xem là ưu điểm, vừa có thể xem là nhược điểm.
Về nhược điểm, nó làm cho việc mua bán kém linh hoạt hơn và mất nhiều thời gian hơn.
Nhưng về ưu điểm, chính vì quy trình phức tạp hơn nên nhà đầu tư sẽ ít có xu hướng “đụng vào” khoản đầu tư của mình quá thường xuyên. Và trong đầu tư, đây lại là một yếu tố rất quan trọng, vì việc hạn chế giao dịch liên tục thường giúp kết quả đầu tư ổn định hơn trong dài hạn.
Đặc điểm thứ hai của Mutual Fund là khác với cổ phiếu ở chỗ mức vốn tham gia ban đầu.
Đối với cổ phiếu, các bạn có thể mua số lượng rất nhỏ, ví dụ chỉ cần mua 1 cổ phiếu cũng được. Về cơ bản số vốn bỏ ra để bắt đầu đầu tư vẫn không quá lớn (ví dự 10k, 20k… )
Trong khi đó, với các quỹ Mutual Fund, họ thường đặt ra một mức đầu tư tối thiểu. Ví dụ, một quỹ có thể yêu cầu số tiền tối thiểu là 2 triệu đồng để tham gia.
Điều này có nghĩa là nếu các bạn chỉ có 1 triệu đồng thì sẽ chưa thể tham gia vào quỹ đó được. Ngoài ra, trong quá trình đầu tư, một số quỹ còn yêu cầu duy trì mức số dư tối thiểu trong tài khoản.
Những yêu cầu này khiến việc tiếp cận Mutual Fund trở nên khó hơn một chút so với việc mua cổ phiếu trực tiếp trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là đối với những người chưa có nhiều vốn ban đầu.
Trước khi kết thúc phần này, mình sẽ chia sẻ thêm một kiến thức quan trọng mà rất nhiều người thường nhầm lẫn, đó là ngoài Mutual Fund thì còn có một loại quỹ khác cũng rất phổ biến, đó là Hedge Fund.
Ở Việt Nam, Hedge Fund thường được gọi là quỹ phòng hộ hoặc quỹ thành viên. Nhân tiện khi đang nói về Mutual Fund, mình sẽ giúp các bạn phân biệt thêm sự khác nhau giữa Mutual Fund và Hedge Fund.
Thứ nhất là về điểm giống nhau.
Về cơ bản, cả hai đều có cách vận hành tương đối giống nhau. Nghĩa là tiền của nhà đầu tư sẽ được quản lý bởi một đội ngũ chuyên gia đầu tư. Họ sẽ thay mặt nhà đầu tư thực hiện các hoạt động phân tích và đầu tư, và đổi lại, nhà đầu tư sẽ trả phí cho họ để thực hiện công việc này.
Còn điểm khác nhau giữa Mutual Fund và Hedge Fund thì có khá nhiều. Để dễ hình dung, các bạn có thể tưởng tượng Mutual Fund giống như một “nhà văn hóa”, ai cũng có thể tham gia nếu đáp ứng điều kiện cơ bản. Còn Hedge Fund thì giống như một “hội kín” hoặc một câu lạc bộ giới hạn, chỉ dành cho một nhóm nhà đầu tư đặc biệt.
Để tham gia đầu tư vào Hedge Fund, yêu cầu thường phức tạp hơn rất nhiều. Đầu tiên là về vốn. Với Mutual Fund, như mình đã nói, dù vẫn có mức đầu tư tối thiểu, nhưng nếu so với Hedge Fund thì con số đó rất nhỏ.
Hedge Fund thường hướng đến nhóm nhà đầu tư giàu có. Ở nước ngoài, để đủ điều kiện tham gia, thu nhập cá nhân có thể phải từ 200.000 đến 300.000 USD trở lên, và đó mới chỉ là mức tối thiểu. Thực tế, nhiều trường hợp yêu cầu tài sản hoặc số vốn lên đến vài triệu USD.
Chính vì vậy, quy mô vốn của Hedge Fund thường rất lớn.
Điểm khác biệt thứ hai là chiến lược đầu tư.
Hedge Fund thường có chiến lược “mạnh tay” và linh hoạt hơn nhiều so với Mutual Fund. Trong khi Mutual Fund thường ưu tiên sự an toàn và đa dạng hóa danh mục để giảm rủi ro, thì Hedge Fund có thể chấp nhận rủi ro cao hơn để tìm kiếm lợi nhuận lớn hơn.
Ví dụ, để đảm bảo yếu tố Diversification (đa dạng) như mình đã nói trước đó, Mutual Fund thường sẽ không tập trung quá nhiều vốn vào một công ty duy nhất. Thậm chí, có những quy định nội bộ giới hạn việc không được đầu tư quá 5% tổng tài sản vào một cổ phiếu. Điều này giúp giảm rủi ro và đảm bảo danh mục được phân tán rộng hơn.
Nhưng mà với Hedge Fund thì khác, họ sẽ có một đội ngũ phân tích và thường đầu tư “bạo” hơn rất nhiều.
Khi họ nhìn thấy một cơ hội lớn, họ có thể sẵn sàng phân bổ tỷ trọng rất cao vào một khoản đầu tư, ví dụ 10%, 20%, thậm chí cao hơn. Đây là một trong những điểm khác biệt lớn so với Mutual Fund.
Ngoài ra, Hedge Fund có thể đầu tư vào rất nhiều loại tài sản khác nhau trên thị trường. Họ sẵn sàng sử dụng những chiến lược rủi ro hơn, chẳng hạn như giao dịch hợp đồng tương lai, sử dụng đòn bẩy tài chính, hoặc các công cụ phái sinh. Đây là những chiến lược mà Mutual Fund thường hạn chế sử dụng hoặc thậm chí không sử dụng.
Nếu nói một cách hình tượng, chúng ta có thể hiểu đơn giản là Mutual Fund giống như thuê một “lính đánh thuê” để quản lý và đầu tư thay cho mình một cách tương đối an toàn và có kiểm soát. Còn Hedge Fund thì giống như “thuê sát thủ”, tức là họ có thể hành động quyết liệt hơn, rủi ro hơn, nhưng cũng có thể tạo ra kết quả mạnh hơn.
Chính vì tính chất đó, Hedge Fund thường có tiềm năng tạo ra tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với Mutual Fund. Tuy nhiên, cũng giống như mọi quy luật trong đầu tư, lợi nhuận mong muốn càng cao thì rủi ro càng lớn.
Đó là một số điểm khác biệt cơ bản giữa Mutual Fund và Hedge Fund. Trên thực tế, đây là hai khái niệm rất dễ bị nhầm lẫn, nên hy vọng sau phần này các bạn đã hiểu rõ hơn về sự khác nhau giữa chúng.
Một thông tin nữa là Ray Dalio, ông là một trong những nhà sáng lập của quỹ Hedge Fund lớn nhất thế giới hiện tại tên là Bridgewater.
Ông Ray Dalio cũng là tác giả của một cuốn sách rất hay có tên là Principles: Life & Work.
Đây là một quyển sách rất đáng đọc, và nếu có thể thì mỗi năm các bạn nên đọc lại một lần để hiểu sâu hơn về tư duy và nguyên tắc làm việc trong đầu tư cũng như trong cuộc sống.
Quay lại với chủ đề ngày hôm nay thì cá nhân mình không đầu tư vào quỹ Mutual Fund, nhưng mình vẫn sử dụng một phần vốn để đầu tư vào Index Fund và ETF (có phân tích kỹ hau quỹ này ở dưới)
Lý do đầu tiên là trong trường hợp của mình, với chiến lược Active Investing, mình thích tự tay đầu tư hơn. Kiểu như lời ăn lỗ chịu: nếu làm tốt thì mình được hưởng kết quả, còn nếu làm chưa tốt hoặc không cẩn thận thì mình tự chịu trách nhiệm với quyết định của mình. Mình thích cảm giác đó hơn là việc giao tiền cho người khác quản lý mà mình không kiểm soát được họ đang làm gì với khoản đầu tư của mình.
Ngoài ra, mình cũng thích quá trình tự nghiên cứu, tự phân tích và tự đưa ra quyết định đầu tư. Việc tự chịu trách nhiệm với quyết định của mình cũng là một phần quan trọng trong cách mình tiếp cận đầu tư.
Bên cạnh đó, mình cũng có một số lợi thế nhất định so với nhiều nhà đầu tư khác, nên điều đó cho phép mình đầu tư chủ động hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc tự đầu tư cũng đồng nghĩa với việc phải chấp nhận mức độ rủi ro cao hơn.
Vì vậy, mình luôn phải phân bổ danh mục đầu tư một cách hợp lý, chia ra từng phần: phần an toàn, phần rủi ro thấp và phần rủi ro cao. Thậm chí có những khoản mình xác định là đầu tư mạo hiểm, nếu mất cũng không ảnh hưởng lớn đến tổng tài sản, thì mình vẫn sẵn sàng chấp nhận.
Và cũng chính bởi lý do mình không chọn Mutual Fund, thì đó cũng là lý do vì sao nhiều người lại nên chọn Mutual Fund.
Ví dụ, cái thú vui của mình là phân tích tài chính, nhưng có thể đó lại là điều mà nhiều bạn không thích, thậm chí là rất ghét. Sẽ có những bạn không muốn ngồi đọc và phân tích hàng loạt báo cáo tài chính hay những con số phức tạp, dễ gây “nhức đầu”.
Ngoài ra, không phải ai trong chúng ta cũng có điều kiện tiếp cận đầy đủ thông tin chuyên môn liên quan đến các công ty mà mình muốn đầu tư. Trong những trường hợp như vậy, việc nhờ chuyên gia quản lý và đầu tư thay cũng có thể là một lựa chọn hợp lý.
Tuy nhiên, mình nghĩ vẫn còn một lựa chọn khác mà có thể phù hợp hơn với nhiều bạn, đó là chiến lược Passive Investing. Chiến lược này mình sẽ chia sẻ kỹ, cơ bản đây là một phương pháp rất phù hợp với những người không chuyên.
Ngay cả bản thân mình, dù có sử dụng Active Investing, thì Passive Investing vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong danh mục đầu tư của mình.
Lý do cụ thể tại sao mình lại phân bổ như vậy, mình sẽ giải thích kỹ hơn ở phần theo khi chúng ta bắt đầu nói về Index Fund và ETF. Trong bài đó, mình sẽ chia sẻ rõ Index Fund là gì, nó giống và khác Mutual Fund như thế nào, ETF là gì và nó khác gì so với các quỹ truyền thống, cũng như lý do tại sao mình chọn Index Fund và ETF để đầu tư cho quỹ hưu trí của mình.
RỒI, ĐÂY CHÍNH LÀ PHẦN ĐẦU TƯ VÀO INDEX FUND & ETF
Vừa rồi, chúng ta đã bắt đầu tìm hiểu về một hướng đầu tư hoàn toàn mới cũ loạn hết cả lên 😊)), đó là chiến lược “nhờ người khác đầu tư giúp”.
Cụ thể, chiến lược đầu tiên mà mình đã nói tới là đầu tư vào quỹ Mutual Fund. Hiểu nôm na là chúng ta giao tiền cho các chuyên gia đầu tư quản lý và họ sẽ thay chúng ta thực hiện các quyết định đầu tư.
Thông thường, các Mutual Fund sẽ có xu hướng sử dụng chiến lược Active Investing để đầu tư số tiền mà nhà đầu tư gửi vào. Nghĩa là họ sẽ liên tục phân tích thị trường, tìm kiếm các công ty mà họ tin rằng sẽ tăng trưởng trong tương lai để thực hiện đầu tư.
Đây là những ý quan trọng giúp chúng ta làm nền tảng để bước tiếp.
Thì chúng ta đã biết một trong những nhược điểm cần lưu ý của chiến lược đầu tư vào các quỹ Mutual Fund đó là các khoản phí. Những khoản phí này thường khá cao, trung bình khoảng từ 1 đến 2% cho Management Fee (phí quản lý) và khoảng 20% cho Performance Fee (phí hiệu suất).
Nhược điểm thứ hai, quan trọng hơn, là dù các chuyên gia đã được đào tạo bài bản và liên tục phân tích thị trường, nhưng các số liệu tổng kết luôn cho thấy rằng trong dài hạn, các chiến lược Active Investing thường mang lại mức lợi nhuận thấp hơn so với mức tăng trưởng trung bình của thị trường.
Và chính từ những nhược điểm này đã dẫn đến sự hình thành và phát triển của một mô hình đầu tư thứ hai, đó là đầu tư vào các quỹ Index Fund.
Ở trong tiếng Việt thì người ta gọi là các quỹ chỉ số.
Để hiểu thế nào là Index Fund thì chúng ta cần quay lại một chút với khái niệm Index (hay Indices mà mình đã giải thích trước đó – Phần nhóm 1). Index là một tập hợp các cổ phiếu có quy mô hoặc đặc điểm tương đối tương đồng, thường đại diện cho một nhóm lớn của thị trường.
Ví dụ ở Mỹ có chỉ số S&P 500, là tập hợp 500 công ty lớn nhất trên thị trường chứng khoán Mỹ. Ở Úc có ASX 200 (AUS 200), còn ở Việt Nam thì có VN30, tức là 30 công ty có vốn hóa lớn nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Khác với Mutual Fund, nơi các nhà quản lý quỹ liên tục mua bán cổ phiếu tại các thời điểm khác nhau để tìm kiếm lợi nhuận và mục tiêu là vượt qua mức tăng trưởng chung của thị trường (chiến lược này gọi là Active Investing), thì Index Fund lại đi theo hướng ngược lại.
Đúng như tên gọi, các quỹ Index Fund không sử dụng Active Investing mà sử dụng chiến lược Passive Investing. Cụ thể, các quỹ này sẽ cố gắng mô phỏng và bám sát theo mức tăng trưởng của một chỉ số Index nào đó, sao cho càng gần với chỉ số đó càng tốt.
Nhân tiện thì ở đoạn tên gọi này, tuy các quỹ được gọi chung là Index Fund, nhưng thực ra họ có thể “theo dõi” rất nhiều loại chỉ số khác nhau.
Có quỹ thì bám theo một chỉ số Index cụ thể như mình vừa nói, có quỹ thì bám theo một Industry (ngành), có quỹ thì lại theo một Sector (lĩnh vực) nhất định. Nói chung là rất đa dạng, tùy vào cách thiết kế của từng quỹ.
Về cách hoạt động cụ thể để bám sát được chỉ số Index, như mình đã chia sẻ ở ví dụ VN30 trước đó, mình có nói đơn giản là họ sẽ mua tất cả cổ phiếu trong rổ VN30, từ đó mô phỏng lại biến động của chỉ số này. Khi VN30 tăng hay giảm thì danh mục của quỹ cũng sẽ tăng giảm tương ứng.
Tuy nhiên, các bạn lưu ý đây chỉ là ví dụ đơn giản để dễ hình dung. Trong thực tế, cách mà các quỹ Index Fund vận hành sẽ phức tạp hơn một chút, có thể sử dụng các phương pháp tối ưu hóa danh mục thay vì chỉ mua toàn bộ cổ phiếu một cách máy móc.
Dù cách làm có thể khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn không thay đổi: đó là cố gắng đạt được mức tăng trưởng càng sát càng tốt so với chỉ số mà quỹ đang theo dõi.
Bây giờ mình sẽ chia sẻ một số ưu điểm cũng như khuyết điểm của các quỹ Index Fund này:
– Ưu điểm đầu tiên là phí quản lý của các quỹ này rất thấp. Lý do là bởi vì chiến lược đầu tư rất đơn giản, chúng ta không cần phải có những chuyên gia tốt nghiệp từ các trường hàng đầu thế giới để phân tích như trong trường hợp của Mutual Fund. Với các quỹ Index này, theo ví dụ đơn giản VN30 mà chúng ta vừa nói nãy giờ, thì về cơ bản chúng ta chỉ cần một cô thư ký là có thể làm được công việc này. Nhiệm vụ của cô thư ký chỉ là ngồi xem portfolio (danh mục) của quỹ để xem có đủ 30 công ty hay chưa, và nếu có công ty nào bị loại khỏi danh sách VN30 thì cô thư ký sẽ đặt lệnh bán công ty đó và mua vào công ty vừa được thêm vào danh sách.
Tất cả các việc này hầu như gần như không cần phải tính toán gì nhiều. Tuy nhiên, các bạn lưu ý là những gì mình vừa nói chỉ mang tính ví dụ hình tượng, chứ trong thực tế người ta không bao giờ giao cả một quỹ lớn như vậy cho một cô thư ký để quản lý 😊)). Nhưng nhìn chung, chính vì đặc điểm này nên nó dẫn tới ưu điểm đầu tiên của việc đầu tư vào các quỹ Index Fund, đó là do các công việc cần làm để quản lý quỹ rất ít nên phí của nó cũng rất thấp.
Ở đây:
https://investor.vanguard.com/investment-products/mutual-funds/profile/vfiax#performance-fees
Nó là Vanguard 500, và quỹ này sẽ theo dõi chỉ số S&P 500. Như các bạn thấy, phí quản lý của quỹ này chỉ khoảng 0.04%, thấp hơn rất nhiều so với mức 1-2% của các quỹ Mutual Fund mà chúng ta đã tìm hiểu trong bài trước. Đây là ưu điểm thứ nhất.
– Ưu điểm thứ hai quan trọng hơn, như lúc nãy mình có nói, là trong dài hạn thì các quỹ Index Fund thường có xu hướng mang lại mức tăng trưởng tốt hơn so với các quỹ Mutual Fund theo chiến lược Active Investing.
Và đây cũng chính là lý do vì sao mình khuyên các bạn chưa biết nhiều về đầu tư nên chọn chiến lược Passive Investing để tìm hiểu trước. Đây là chiến lược phù hợp nhất, an toàn nhất, và trong dài hạn cũng có thể mang lại mức lợi nhuận ổn định cho các bạn.
Về cách tham gia đầu tư vào các quỹ Index Fund này thì cũng tương tự như cách đầu tư vào các quỹ Mutual Fund. Nghĩa là các công ty quản lý quỹ sẽ có website riêng, các bạn sẽ lên đó để mở tài khoản, sau đó chuyển tiền vào quỹ để họ thay chúng ta đầu tư.
Và cũng vì cách hoạt động của nó khá giống với Mutual Fund nên Index Fund cũng sẽ có một số đặc điểm tương tự. Ví dụ như việc giao dịch mua bán sẽ không linh hoạt và đơn giản như cổ phiếu trên thị trường, mà sẽ phức tạp hơn một chút. Điều này vừa có thể xem là nhược điểm, vừa có thể xem là ưu điểm như mình đã phân tích ở bài trước.
Chính từ đặc điểm này, nó dẫn chúng ta đến một loại quỹ thứ ba, cũng là khái niệm mà mình đã nhắc đến vài lần từ đầu đến giờ, đó là quỹ ETF.
QUỸ ETF:
Nó được viết tắt từ cụm từ Exchange Traded Fund, tiếng Việt gọi là quỹ hoán đổi danh mục.
Quỹ ETF gần như giống hệt quỹ Index Fund mà mình vừa chia sẻ cho các bạn, chỉ khác ở một điểm quan trọng: thay vì với Index Fund, các bạn phải đăng ký tài khoản và chuyển tiền trực tiếp cho công ty quản lý quỹ, thì với ETF, các quỹ này được niêm yết trực tiếp trên thị trường chứng khoán.
Chúng ta có thể hiểu một cách nôm na là: Index Fund giống như một công ty tư nhân (Private Company), còn ETF giống như một công ty đại chúng (Public Company). Ví dụ dễ hiểu hơn là chúng ta lấy một quỹ Index Fund rồi “IPO” nó lên sàn chứng khoán, thì nó sẽ trở thành ETF.
Tất nhiên đây chỉ là ví dụ để các bạn dễ hình dung, không phải là cách vận hành chính xác trong thực tế. Nhưng chính vì đặc điểm này mà ETF và Index Fund có một số điểm khác biệt căn bản, và cũng là lý do rất nhiều người thường hay nhầm lẫn giữa hai loại quỹ này.
Bây giờ mình sẽ chia sẻ một số điểm giống nhau và khác nhau giữa hai loại quỹ này:
Về mặt giống nhau, đầu tiên tuy về mặt lý thuyết thì các quỹ ETF cũng có thể sử dụng cả chiến lược Passive Investing lẫn Active Investing, nhưng trong thực tế thì hầu hết các quỹ ETF đều đầu tư theo chiến lược Passive Investing.
Điều này khiến ETF về cơ bản gần như giống với cách hoạt động của Index Fund. Cụ thể, trong thực tế, ví dụ như quỹ Index Fund mà mình vừa chia sẻ là Vanguard 500, thì mã của nó trên thị trường Mỹ là VFIAX.
Nhưng mà bên cạnh đó nếu muốn thì các bạn vẫn có thể đầu tư vào một cái quỹ ETF và nó cũng Trade cái chỉ số S&P500, có tên là Vanguard S&P500 cái mã là VOO:
Also available as an ETF (starting at the price of $1):
https://investor.vanguard.com/investment-products/etfs/profile/voo
Đó là những điểm giống nhau.
Còn điểm khác nhau thì cũng xuất phát từ chính bản chất của hai loại quỹ này. Như lúc nãy mình có nói, có thể hiểu nôm na Index Fund giống như một công ty tư nhân, còn ETF giống như một công ty đại chúng. Và chính vì vậy, cách mua bán của ETF cũng đơn giản hơn.
Khi cần, các bạn có thể mua hoặc bán các chứng chỉ quỹ ETF giống như đang giao dịch một cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Trong khi đó, với Index Fund thì khác một chút, các giao dịch thường không diễn ra liên tục trong ngày mà sẽ được thực hiện vào cuối ngày.
Tuy nhiên, với phong cách đầu tư dài hạn (long term), tức là giữ từ 5 năm, 10 năm hoặc thậm chí vài chục năm, thì việc giao dịch trong ngày hay cuối ngày thực ra cũng không quá quan trọng.
Một điểm khác biệt đáng chú ý hơn là về phí. Thông thường, phí của các quỹ ETF thậm chí còn thấp hơn cả Index Fund.
Ví dụ như đối với các quỹ Index Fund theo dõi chỉ số S&P 500 như ví dụ mà chúng ta đã nói nãy giờ, thì mức phí quản lý thường khoảng 0.04%. Còn với quỹ ETF như VOO, cũng theo dõi chỉ số S&P 500, thì phí quản lý còn thấp hơn nữa, chỉ khoảng 0.03%.
(xem phần: Expense ratio ở link trên)
Tuy nhiên, cũng bởi vì các quỹ ETF được niêm yết trên thị trường chứng khoán, nên khi các bạn mua bán những quỹ này thì vẫn phải trả phí môi giới giống như khi giao dịch cổ phiếu thông thường.
Nhưng nói đi cũng phải nói lại, ở bên các quỹ Mutual Fund và Index Fund (dạng không niêm yết), tuy không có phí giao dịch như ETF, nhưng các bạn vẫn phải chịu một khoản phí tương tự khi rút vốn. Ở đó, người ta gọi là Redemption Fee hoặc một số nơi gọi là Exit Fee. Khoản phí này sẽ tùy thuộc vào thời gian mà các bạn đã tham gia quỹ, tức là giữ càng lâu thì phí rút ra có thể càng giảm.
Dưới đây là các cái khoản phí của quỹ Vinacapital (VEOF):
Redemption fee (based on holding period of the fund units)
Day 1 to Day 364: 2% (từ ngày 1 đến ngày 364)
Day 365 to Day 729: 1%
From Day 730 onwards: 0%
Mà mình đã chia sẻ cho các bạn về các quỹ Mutual Fund, và cuối cùng cũng bởi vì ETF được giao dịch giống như một loại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, cho nên nó không đòi hỏi các bạn phải có mức đầu tư tối thiểu như Index Fund hay Mutual Fund. Các bạn có thể mua chỉ một cổ phiếu cũng đc về cơ bản giá trị không quá lớn.
Còn nếu các bạn còn nhớ ví dụ về Mutual Fund ở bài trước thì thường sẽ có một mức đầu tư tối thiểu nhất định.
Từ những lý do đó, cụ thể trong trường hợp cá nhân mình thì mình thường có xu hướng chọn ETF hơn là Index Fund, chủ yếu là vì tính tiện lợi của nó. Như mình đã nói, khi cần thì có thể dễ dàng đặt lệnh bán bất kỳ lúc nào giống như giao dịch một cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. (95% là bán được ngay)
Nhưng nói vậy, nhưng tất cả các quỹ ETF mà mình đã mua cho tới nay thì mình chưa từng bán một quỹ nào, và mình xác định sẽ giữ trong thời gian rất dài ở tương lai.
Đó là cái nhìn tổng quát về Index Fund và ETF.
Chúng ta cùng nhau tóm tắt lại tổng quát các loại quỹ đầu tư mà chúng ta đã tìm hiểu vừa rồi:
Đầu tiên là quỹ Mutual Fund: đây là những quỹ mà có các chuyên gia đứng ra phân tích và lựa chọn những công ty có tiềm năng trên thị trường để đầu tư. Đa phần các quỹ Mutual Fund sẽ sử dụng chiến lược Active Investing, với mục tiêu là đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức tăng trưởng chung của thị trường.
Chính vì đặc điểm như vậy nên các loại phí của Mutual Fund cũng thường cao hơn so với Index Fund và ETF.
Trong đó thì mình cũng có giới thiệu thêm cho các bạn về Hedge Fund, là loại quỹ mà ở tiếng Việt người ta gọi là quỹ phòng hộ hoặc quỹ thành viên. Hedge Fund cũng có tính chất tương tự như Mutual Fund, điểm khác biệt là quy mô của họ thường lớn hơn rất nhiều, và bên cạnh đó mục tiêu về lợi nhuận cũng cao hơn, đồng nghĩa với mức độ rủi ro cũng sẽ lớn hơn. Đó là loại quỹ thứ hai.
Cái loại quỹ thứ ba là Index Fund, là các loại quỹ mà họ dùng chiến lược Passive Investing để đầu tư. Mục tiêu của những quỹ này là cố gắng bám sát theo một chỉ số Index nào đó, hoặc một Industry hay một Sector nào đó.
Với các quỹ có chiến lược tracking tốt thì tỷ lệ Return của nó gần như tương đương với tỷ lệ tăng trưởng của thị trường. Và bởi vì tính chất đầu tư như vậy nên các loại phí quản lý của nó thấp hơn rất nhiều so với Mutual Fund và Hedge Fund.
Và cuối cùng là quỹ ETF.
Quỹ này thì gần như tương đương với quỹ Index Fund, nhưng nó mang tính chất như một loại cổ phiếu, và từ đó chúng ta có thể giao dịch nó giống như giao dịch một cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Về phí của ETF thì trong đa số trường hợp nó sẽ thấp nhất trong tất cả các loại quỹ này, thậm chí thấp hơn cả Index Fund.
Và đó là các loại quỹ lớn nhất trong đầu tư. Thỉnh thoảng mình cũng thấy có rất nhiều người bị lầm lẫn giữa các loại quỹ này với nhau, họ nhầm lẫn giữa Mutual Fund và Hedge Fund, hoặc nhầm lẫn giữa Index Fund và ETF.
Hy vọng rằng trong chia sẻ lần này, mình đã giúp các bạn phần nào hiểu rõ hơn về các loại quỹ, cũng như cách hoạt động và chiến lược đầu tư của họ. Với cá nhân mình, tuy có sử dụng chiến lược Active Investing, nhưng mình vẫn phân bổ một phần khá lớn trong portfolio vào chiến lược Passive Investing, cụ thể là vào các quỹ ETF.
Đây cũng chính là chiến lược mà mình thường khuyên những người thân xung quanh nên sử dụng, đặc biệt là với những người không chuyên, không có hứng thú với việc phải ngồi tìm hiểu và phân tích các con số hay báo cáo tài chính.
TỔNG KẾT NHỮNG CHIẾN LƯỢC NÊN ĐẦU TƯ
Xin chào các bạn 😊)), bữa giờ thì chúng ta đã tìm hiểu sơ bộ về tất cả những chiến lược đầu tư trên thị trường chứng khoán. Để kết thúc phần này vì mình lỡ xem mấy vid của DUY THANH NGUYỄN thật chả đc vid nào ra hồn thế mà các e cứ khen hay =)) thì trong bài chia sẻ này sẽ là một bài hơi đặc biệt, mình sẽ tổng hợp lại một bức tranh tổng quát cho các bạn về tất cả các chiến lược đã học.
Thì từ đầu tới giờ chúng ta đã được biết đến các chiến lược như:
– Dividend Investing (đầu tư lầy cổ tức)
– Growth Investing (đầu tư tăng trưởng)
– Value Investing (đầu tư giá trị)
Những chiến lược đầu tư dạng này đòi hỏi chúng ta phải tự nghiên cứu và chọn ra những công ty nên đầu tư, nên mình tạm gọi nhóm này là nhóm “tự đầu tư”.
Tuy nhiên, như mình đã nói trước đây, tất cả những phương pháp này đều khá phức tạp. Do đó chúng ta có một nhóm đầu tư thứ hai, tạm gọi một cách dân dã là “nhờ người khác đầu tư giùm”, trong đó chúng ta có một số loại quỹ.
– Quỹ đầu tiên là Mutual Fund và Hedge Fund: là các quỹ mà các nhà đầu tư chuyên nghiệp sẽ phân tích và đầu tư giùm chúng ta. Họ sẽ chọn ra công ty nào nên mua, công ty nào nên bán, rồi thực hiện mua bán vào thời điểm phù hợp.
– Tiếp theo là các quỹ Index Fund: những quỹ này thay vì chủ động phân tích và chọn ra từng công ty để đầu tư, thì chiến lược của họ là bám sát theo các chỉ số Indices. Nói nôm na là họ sẽ cố gắng theo sát tỷ lệ tăng trưởng của một thị trường nào đó.
– Và cuối cùng là các quỹ ETF: các quỹ này về cơ bản giống như Index Fund, điểm khác biệt là chúng được niêm yết trực tiếp trên thị trường chứng khoán như một mã chứng khoán, và do đó có một số đặc tính tương tự như cổ phiếu.
Thì đó là cơ bản phân nhóm về những hoạt động “tự đầu tư” và “nhờ người khác đầu tư giùm”.
Ngoài ra thì chúng ta cũng đã tìm hiểu về hai chiến lược là Passive Investing và Active Investing, nghĩa là đầu tư thụ động và đầu tư chủ động.
Trong đó, Passive Investing như mình vừa nói lúc nãy là khi người ta cố gắng bám sát theo một chỉ số nào đó trên thị trường. Mục tiêu là tạo ra kết quả tăng trưởng giống với tỷ lệ tăng trưởng chung của thị trường.
Còn Active Investing là khi người ta chủ động phân tích và tìm ra những công ty mà họ thấy có tiềm năng, đúng với chiến lược mà họ đang theo đuổi. Mục tiêu của Active Investing là đạt được tỷ lệ lợi nhuận cao hơn tỷ lệ tăng trưởng chung của thị trường.
Thì trong nhóm này, chúng ta có hai loại là ETF và Index Fund thuộc chiến lược Passive Investing. Còn Mutual Fund và các hoạt động đầu tư riêng lẻ từng cổ phiếu thì thuộc chiến lược Active Investing.
Bây giờ thì mình có một sơ đồ khác để diễn giải ngắn gọn hơn trên một trục như sau (HÌNH 1):
• Chúng ta có một trục thẳng đứng, trong đó phần phía trên là chiến lược Passive Investing, cụ thể là đầu tư vào các quỹ ETF và Index Fund. Phần phía dưới là chiến lược Active Investing, cụ thể là đầu tư vào các công ty riêng lẻ hoặc đầu tư vào Mutual Fund.
Giờ mình sẽ giới thiệu thêm cho các bạn hai khái niệm nữa: Short Term Investing và Long Term Investing (trục nằm ngang). Short Term Investing trong tiếng Việt là đầu tư ngắn hạn, còn Long Term Investing là đầu tư dài hạn.
Tuy nhiên, với cá nhân mình thì mình không gọi đầu tư ngắn hạn là “đầu tư”, mà gọi là hoạt động Stock Trading, nghĩa là hoạt động mua bán cổ phiếu. Trong hoạt động này, người ta không quá tập trung vào thời hạn dài hay giá trị thực của công ty như thế nào (hoặc nếu có thì cũng chỉ là yếu tố phụ). Thay vào đó, họ chủ yếu tập trung vào cung cầu trên thị trường để dự đoán các làn sóng tăng giảm giá, từ đó chọn điểm mua và bán phù hợp để kiếm lợi nhuận.
Và mình cũng xin nói thẳng là đây là một hoạt động rất nguy hiểm, bởi vì nó không dựa trên giá trị thực hay tiềm năng dài hạn của doanh nghiệp, mà chủ yếu dựa trên dự đoán rằng: “mình mua vào giá này thì có người khác sẵn sàng mua lại với giá cao hơn hay không”.
Mình lấy một ví dụ đơn giản để các bạn dễ hiểu:
Giả sử như ai đó lượm một cục đá ngoài đường và bán cho mình với giá 100 nghìn đồng, thì mình thừa hiểu là về cơ bản cục đá đó không có giá trị gì. Nhưng nếu mình biết rằng có người khác là DUY THANH NGUYÊN (thôi trêu tí thôi 😊) sẵn sàng mua lại nó với giá 150 nghìn, thì mình sẽ quyết định mua cục đá đó và bán lại cho người kia để kiếm lời 50 nghìn.
Tương tự như vậy, người mua thứ hai với giá 150 nghìn cũng không quan tâm giá trị thực của cục đá là bao nhiêu, nhưng vì họ tin rằng có thể bán lại nó với giá 170 nghìn nên họ sẵn sàng mua lại từ mình với mục tiêu kiếm lời 20 nghìn.
Trong suốt quá trình này, có thể người ta sẽ sử dụng một số thủ thuật hoặc chiêu trò để “bơm thổi” giá trị, chẳng hạn như quảng cáo hoặc tin đồn, với mục tiêu tạo ra niềm tin hoặc gán cho tài sản đó một giá trị nào đó. Ví dụ như việc so sánh với tiền: người ta có thể lập luận rằng tiền về cơ bản cũng chỉ là giấy, nhưng vì mọi người cùng tin nó có giá trị nên nó trở thành có giá trị.
Đoạn này thì các bạn bắt đầu thấy quen quen phải không, đó là câu chuyện của crypto, người ta cũng hay dùng để so sánh với vàng.
Anyway, quay lại câu chuyện của chúng ta. Rủi ro của hoạt động này là đến một thời điểm nào đó, ví dụ giá đã lên tới 1 triệu đồng, nghĩa là lúc này giá trị của cục đá đã tăng gấp 10 lần so với lúc mình mua. Và đến lúc này, anh “người mua thứ 10” kia không tìm được người mua thứ 11 với giá 1 triệu 100 nghìn chẳng hạn, thì lúc đó anh ta sẽ ngồi nhìn cục đá, và cục đá cũng ngồi nhìn anh ta.
Đó là một ví dụ hình tượng để các bạn hiểu bản chất của hoạt động Stock Trading: người ta không quá quan tâm đến giá trị thực của món hàng đang trao đổi, mà chủ yếu quan tâm liệu có người thứ hai sẵn sàng trả giá cao hơn hay không.
Đó là những chiến lược đầu tư ngắn hạn, cụ thể là Stock Trading – hoạt động mua bán cổ phiếu, hay ở Việt Nam người ta thường gọi là lướt sóng.
Còn ở bên phải thì người ta gọi là chiến lược đầu tư dài hạn, chính là chiến lược mà chúng ta đã tìm hiểu từ đầu khóa học tới giờ. Nghĩa là chúng ta đầu tư vào một công ty bằng cách nhìn vào giá trị của nó.
Nếu đó là chiến lược Growth Investing thì chúng ta tin rằng công ty đó sẽ còn tăng trưởng trong tương lai dài hạn. Còn nếu là chiến lược Value Investing thì chúng ta thấy giá trị của nó đang thấp hơn giá trị thực, và từ đó đầu tư với kỳ vọng rằng một lúc nào đó nó sẽ quay trở về đúng giá trị thực, và khi đó chúng ta sẽ có lợi nhuận.
Rồi, bây giờ mình sẽ chia sẻ cho các bạn cách mà mình phân bổ hoạt động đầu tư của mình ra sao. Bây giờ chúng ta hãy quay lại biểu đồ này (HÌNH 1)
Từ cái biểu đồ này kết hợp lại thì chúng ta sẽ có một số chiến lược đầu tư như sau:
Đầu tiên, khi mà kết hợp chiến lược đầu tư dài hạn với chiến lược Active Investing thì chúng ta sẽ có hoạt động đầu tư như là tìm hiểu và phân tích thật kỹ tất cả các công ty, từ đó tìm ra những công ty tiềm năng và giữ những công ty này trong dài hạn – Góc đưới bên phải. Các bạn lưu ý là mỗi khi mình dùng từ “dài hạn” thì có nghĩa là nó tính bằng nhiều năm, 5 năm, 10 năm hoặc thậm chí là vài chục năm. Đó là nhóm thứ nhất.
Nhóm thứ hai là chúng ta mua những quỹ Index Fund hoặc ETF, những quỹ này sẽ bám theo các chỉ số được giao dịch trên thị trường và sau đó giữ chúng trong dài hạn.
Nhóm thứ ba là nhóm ở góc dưới bên trái, đó là hoạt động stock trading. Đây là việc mua bán cổ phiếu liên tục để tìm kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn, như mình đã giải thích lúc nãy. Ở Việt Nam người ta hay gọi là đầu tư lướt sóng.
Và cuối cùng là khu vực phía trên bên trái, đó là những người mua bán cổ phiếu ETF nhưng lại giao dịch liên tục trong ngắn hạn. Thực ra đối với mình thì đây là nhóm khá khó hiểu, bởi vì thông thường trong ngắn hạn thì các quỹ ETF tăng rất chậm. Những người này đã trade ngắn hạn rồi nhưng lại chọn ETF để giao dịch, nên về mặt logic thì hơi mâu thuẫn.
Nhưng trong thực tế thì vẫn có những người như vậy. Theo quan sát cá nhân mình thì đa số những người này chưa hiểu rõ bản chất của các chiến lược đầu tư. Họ nghe mỗi nơi một chút, có người khuyên đầu tư ETF thì họ cũng mua ETF, nhưng lại có tâm lý liên tục mở ra xem giá lên xuống từng ngày, trong khi chiến lược ETF thực chất là chiến lược dài hạn.
ETF về bản chất là kiểu “fire and forget”, nghĩa là mua xong rồi để đó, không cần theo dõi liên tục. Thậm chí có thể giữ 10 năm, 20 năm rồi mới xem lại.
Thì đó là tổng cộng bốn nhóm hướng đầu tư.
PHẦN THỰC CHIẾN:
Cách mà mình phân bổ các danh mục đầu tư của mình như sau:
Thứ nhất, 100% các khoản đầu tư của mình đều là long term, tức là đầu tư dài hạn. Mình hoàn toàn không tham gia các hoạt động trading ngắn hạn, nghĩa là tất cả hoạt động đầu tư đều nằm ở phía bên tay phải của biểu đồ.
Trong nhóm long term và passive investing, mình chủ yếu phân bổ vào các quỹ ETF, chứ không dùng Index Fund. Trong nhóm này thì mình có hai khoản chính:
Khoản thứ nhất là toàn bộ Quỹ Lương Hưu (Giả sử mỗi tháng bạn đi làm và tiết kiệm được tiền. Thay vì tiêu hết, bạn trích ra một phần để đầu tư vào ETF) trong suốt quá trình đi làm của mình. Khoản này chiếm khoảng 10% tổng danh mục đầu tư.
Ngoài ra, mình còn có thêm các quỹ ETF đầu tư trực tiếp trên thị trường chứng khoán. Các khoản này chiếm khoảng 20% tổng danh mục đầu tư. Mình coi đây là khoản đầu tư gần như “giữ mãi mãi”, chỉ khi nào thật sự cần thì mới bán ra, và nếu bán thì chỉ bán một phần cần thiết chứ không bán toàn bộ.
Tổng cộng lại, phần ETF trong danh mục của mình chiếm khoảng 30% tổng danh mục đầu tư.
Bài viết được trích xuất và lưu trữ từ trang chính thức CMB Investing – Cố Vấn Đầu Tư VPS. Xem bài viết gốc trên Facebook ↗
Mỗi ấn phẩm Tạp Chí CMB được chắt lọc từ những chiêm nghiệm sống và phân tích đầu tư thực chiến, nhằm đồng hành cùng các anh chị trên con đường tự do tài chính.