SERIES PHÂN TÍCH VĨ MÔ BÀI BẢN ĐẦU TƯ (TIỀN GỬI, VÀNG, BĐS, CHỨNG KHOÁN) – Phần tiếp theo

Phát hành: 05/05/2026 • Chuyên mục: Tạp chí định kỳ CMB
38 phút đọc • ~7,590 từ
Tiến trình đọc: 0%

Rồi, lúc trước mình là CHÍNH PHỦ khi có các vấn đề xảy ra trong NỀN KINH TẾ nhưng mình để im, không tác động gì xem dân đen sống như thế nào cho nó vui : )) nhưng xem ra không vui mấy =)) nên giờ mình phải căn thiệp thôii

Mọi người có biết Ben Bernanke không?
Bây giờ giả sử bạn là Thống đốc Mỹ năm 2008, với một số thông tin như sau:
1. Thị trường chứng khoán giảm một nửa giá trị
2. Chi tiêu, tiêu dùng thắt chặt (tâm lý hoảng loạn, ngân hàng phá sản hàng loạt)
3. GDP giảm 2,5%
4. Giá giảm 2,8%
Câu hỏi 1: Trường hợp này là sốc cung hay sốc cầu? Tiêu cực hay tích cực?
Câu hỏi tiếp theo: Nếu bạn là thống đốc, bạn có can thiệp hay không?
Nếu chưa hiểu giải quyết như thế nào thì đây là lúc bạn nên đọc bài này. Và nếu chúng ta xây dựng được một tư duy rõ ràng, có hệ thống, thì khi nhìn vào các vấn đề vĩ mô, mọi thứ sẽ trở nên rất dễ hiểu.

Vẫn là vấn đề cơ bản:
Tôi có một mảnh đất khá là rộng. Trên mảnh đất đó có tài nguyên, có con người, và từ đây tôi bắt đầu hình dung ra một nền kinh tế thu nhỏ trong một sơ đồ. Mọi thứ trong kinh tế thực chất xoay quanh việc: làm sao sử dụng nguồn lực hữu hạn (đất, lao động, vốn) để tạo ra nhiều giá trị nhất.
https://www.facebook.com/share/p/1GenscUqBH/
Trước hết, cần đặt nền tảng bằng mô hình một nền kinh tế mở. Trong đó có ba chủ thể chính là Chính phủ, Hộ gia đình và Doanh nghiệp, tương tác với nhau thông qua các thị trường: thị trường lao động, thị trường tài chính và thị trường hàng hóa. Bên cạnh đó là yếu tố nước ngoài thông qua xuất nhập khẩu và dòng vốn quốc tế như FDI, FII. Toàn bộ các dòng chảy này tạo thành một hệ thống liên kết chặt chẽ, nơi vốn, lao động và hàng hóa liên tục luân chuyển.
Và trong ba chủ thể này, vai trò của Chính phủ là cực kỳ quan trọng, bởi vì Chính phủ có khả năng tác động, điều chỉnh hành vi của cả [ HỘ GIA ĐÌNH lẫn DOANH NGHIỆP ] thông qua chính sách [CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ]
Chính phủ có hai vai trò cốt lõi: thúc đẩy tăng trưởng dài hạn và ổn định kinh tế trong ngắn hạn. Trong dài hạn, mục tiêu là nâng cao năng suất và tăng GDP trên đầu người. Trong ngắn hạn, Chính phủ tác động vào nền kinh tế chủ yếu thông qua hai công cụ là chính sách tiền tệ (Ngân hàng Trung ương) và chính sách tài khóa (chi tiêu và thu ngân sách).

CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG:
Ví dụ, khi một yếu tố THIÊN TAI, DỊCH BỆNH… xảy ra, nó không tác động thẳng ngay vào GDP hay lạm phát, mà đi theo một chuỗi lan truyền:
DỊCH BỆNH -> tác động đến tâm lý thị trường (fear / uncertainty) -> làm thay đổi hành vi tiêu dùng và đầu tư (ít tiêu dùng) -> ảnh hưởng đến tổng cầu (Aggregate Demand) -> từ đó tác động đến GDP và lạm phát (CPI)
PHẢN ỨNG CỦA NỀN KINH TẾ
Sau khi các chỉ số kinh tế GDP, CPI bị ảnh hưởng, chính phủ sẽ tác động điều tiết nền kinh tế thông qua:
– Chính sách tiền tệ (giảm lãi suất, bơm thanh khoản…)
– Chính sách tài khóa (tăng chi tiêu công, hỗ trợ kinh tế…)
Hai chính sách này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất, tỷ giá và thị trường trái phiếu – những biến số cực kỳ quan trọng đối với mọi loại tài sản.

Để cho a/c/e dễ hình dung, sườn nội dung sẽ xuyên suốt như sau:
Phần 1: CHÚNG TA NẮM ĐƯỢC TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ VÀ CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ
Phần 2: Hiểu kỹ, bóc tách và cách tính GDP VÀ LẠM PHÁT (chỉ sổ cơ bản để phản ánh sức khỏe và hiện trạng của một nền kinh tế, là chỉ số báo sau xác nhận trạng thái của nền kinh tế) để từ đó Chính phủ thông qua chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ điều chỉnh 2 chỉ số này cho đúng mục tiêu từ đó ảnh hưởng tới lãi xuất -> ảnh hưởng tới các lớp tài sản.
Phần 3: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ TỶ GIÁ (chính sách tiền tệ và những vấn đề liên quan như cơ chế cung tiền, hệ thống tổ chức Ngân hàng Trung ương, những công cụ của Chính sách Tiền tệ)
Phần 4: CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ SỰ PHỐI HỢP VỚI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ (Chính sách Tài khóa và những vấn đề liên quan như Chính sách Tài khóa bắt nguồn từ Học thuyết Keynes, thế nào là Chính sách Tài khóa mở rộng và thắt chặt.., vấn đề về thu – chi Ngân sách Nhà nước và vấn đề nợ công của một quốc gia)
Phần 5: CÁC LỚP TÀI SẢN VÀ CHU KỲ ĐẦU TƯ (ác động của lãi suất đến các lớp tài sản Hiểu đươc tác động của lãi suất đến các lớp tài sản cụ thể như Tiền gửi, ngoại tệ, vàng và bất động sản)
Phần 6: LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH & XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ THEO HỒ SƠ RỦI RO.
Phần 1: TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ VÀ CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ
PHẦN NÀY GỒM NHỮNG NỘI DUNG SAU:
1.1 Nền kinh tế vận hành như thế nào? Những thành phần cơ bản trong một nền kinh tế và những yếu tố định lượng và định tính trong nền kinh tế
– Định tính
– Định lượng
+ Chỉ báo trễ
+ Chỉ báo đồng thời
+ Chỉ báo Dẫn dắt
1.2 Chính sách kinh tế và những tác động đến nền kinh tế Thảo luận về những chính sách kinh tế và những tắc động của những chính sách này đến nền kinh tế trong thực tiễn
– Tổng cung
– Tổng cầu
1.3 Vai trò của chính phủ Nắm được vai trò và những công cụ của chính phủ trong điều hành nền kinh tế
– Chính sách tài khóa
– Chính sách tiền tệ
1.4 Điều hành kinh tế vĩ mô tại Việt Nam
–
Bây giờ tiếp theo Phần 1.3

Ok, như bài chia sẻ trước chúng ta đã hiểu khi kinh tế xảy ra các cú sốc tiêu cực nếu chính phủ không can thiệp để im thì nền kinh tế sẽ tự điều chỉnh và gây ra tác động tiêu cực như thế nào rồi.

Ví dụ, khi xảy ra CÚ SỐC CẦU TIÊU CỰC ví dụ như covid.
Nền kinh tế trước covid kinh tế đang ở điểm cân bằng A(GDP1,P1) sau khi covid xảy ra nếu chính phủ không can thiệp nền kinh tế sẽ “tự điều chỉnh tự nhiên” về điểm cân bằng C(GDP3,P3) (Xem hình 2; 2.A ở đây: https://www.facebook.com/photo?fbid=122133233355129767&set=pcb.122133232581129767

Nếu đọc chưa hiểu thì có thể xem lại: https://www.facebook.com/share/p/18w2bomVPh/

Trong một cú sốc kinh tế tiêu cực (đại dịch COVID-19), nền kinh tế không đơn thuần đối mặt với một sự suy giảm thông thường, mà là một cú sốc mang tính hệ thống, làm gián đoạn đồng thời cả phía cầu lẫn phía cung. Tuy nhiên, nếu đặt trọng tâm phân tích vào phía cầu – như trong mô hình Tổng cầu – Tổng cung (AD – AS) – thì cơ chế vận hành có thể được hiểu rõ theo một trình tự sau:
Trước khi xảy ra khủng hoảng, nền kinh tế đang ở trạng thái cân bằng tại điểm A, với mức sản lượng GDP1 và mức giá P1. Đây là trạng thái mà tổng cầu và tổng cung gặp nhau, phản ánh một nền kinh tế vận hành ổn định, thị trường lao động cân bằng và doanh nghiệp hoạt động bình thường.
Khi đại dịch xảy ra, cú sốc đầu tiên và rõ ràng nhất là sự sụp giảm mạnh của tổng cầu. Người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu do thu nhập bất ổn và tâm lý phòng thủ; doanh nghiệp trì hoãn đầu tư; thương mại quốc tế bị đình trệ ((nôm na tổng cầu thu hẹp do người dân thu hẹp chi tiêu). Hệ quả là đường tổng cầu dịch chuyển sang trái, kéo nền kinh tế từ điểm A xuống điểm B nơi sản lượng giảm (GDP2) và mức giá cũng giảm (P2). Đây là trạng thái suy thoái điển hình, đi kèm với thất nghiệp gia tăng và năng lực sản xuất bị bỏ trống.
Nếu trong bối cảnh này, chính phủ không can thiệp – tức là không có chính sách tài khóa mở rộng hay nới lỏng tiền tệ – thì nền kinh tế buộc phải tự điều chỉnh thông qua các cơ chế nội tại. Chính tại đây, vai trò của phía cung bắt đầu trở nên quan trọng.
Từ điểm B, nền kinh tế không đứng yên mà tiếp tục dịch chuyển về một trạng thái cân bằng mới tại điểm C. Sự dịch chuyển này không đến từ sự phục hồi của cầu, mà đến từ sự điều chỉnh của tổng cung. Cụ thể, đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển sang phải. Nhưng vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ: nếu không có sự cải thiện về công nghệ, không có dòng vốn mới, cũng không có sự gia tăng thực chất về năng suất, thì điều gì khiến tổng cung có thể mở rộng?
Câu trả lời gần như duy nhất là sự sụt giảm của chi phí đầu vào, trong đó quan trọng nhất là chi phí lao động. Khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, thất nghiệp tăng cao tạo ra áp lực giảm lương. Người lao động buộc phải chấp nhận mức thu nhập thấp hơn để giữ việc làm hoặc quay lại thị trường lao động. Đồng thời, các chi phí khác như giá thuê mặt bằng, chi phí tài chính, và giá nguyên liệu cũng có xu hướng giảm do nhu cầu yếu. Doanh nghiệp, trong nỗ lực sinh tồn, tiến hành cắt giảm chi phí, tái cấu trúc và tối ưu hóa hoạt động.
Kết quả là chi phí sản xuất giảm trên diện rộng, cho phép doanh nghiệp cung ứng nhiều hàng hóa hơn tại cùng một mức giá – hay nói cách khác, tổng cung dịch chuyển sang phải. Nền kinh tế vì thế đạt tới điểm cân bằng mới tại C, với mức sản lượng có thể phục hồi phần nào và mức giá thấp hơn so với ban đầu.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng trạng thái cân bằng tại điểm C không phải là một sự phục hồi thực chất, mà là một dạng “thích nghi trong suy thoái”. Sản lượng có thể cải thiện so với đáy khủng hoảng, nhưng chất lượng của sự phục hồi lại suy giảm. Thu nhập của người lao động thấp hơn, sức mua yếu hơn, và cầu nội địa trở nên mong manh. Doanh nghiệp tồn tại được là nhờ cắt giảm, chứ không phải nhờ mở rộng. Đây là một nền kinh tế ổn định theo nghĩa kỹ thuật, nhưng suy yếu về nền tảng.
Tóm lại, cú sốc cầu tiêu cực như COVID-19 không chỉ làm giảm sản lượng trong ngắn hạn, mà còn kích hoạt một quá trình tái cân bằng mang tính đau đớn ở phía cung. Nếu không có can thiệp chính sách, nền kinh tế có thể tự tìm đến một điểm cân bằng mới, nhưng đó là một trạng thái được xây dựng trên nền tảng chi phí thấp hơn, thu nhập thấp hơn và một cấu trúc kinh tế yếu hơn

Tương tự như chúng ta đã phân tích, khi xảy ra cú sốc cung mà Chính phủ không can thiệp, để nền kinh tế tự điều chỉnh thì cái giá phải trả là rất lớn: chi phí tăng, sản xuất thu hẹp, tăng trưởng giảm trong khi mức giá lại tăng lên, tức là rơi vào trạng thái đình lạm.
Chính vì những hậu quả đó mà vai trò của Chính phủ trở nên bắt buộc. Trước đây, theo quan điểm của Adam Smith với “bàn tay vô hình”, người ta tin rằng nền kinh tế có thể tự điều chỉnh về trạng thái cân bằng, tức là sau các cú sốc cầu hoặc sốc cung, nền kinh tế sẽ tự quay về điểm cân bằng mới như điểm C trong các mô hình chúng ta đã vẽ.
Tuy nhiên, thực tế lịch sử đã chứng minh điều ngược lại. Trong giai đoạn của Great Depression, khi Chính phủ gần như không can thiệp, nền kinh tế không những không hồi phục nhanh mà còn rơi vào suy thoái kéo dài, thất nghiệp cao và phải mất hàng thập kỷ mới có thể phục hồi.
Chính từ bài học đó, kinh tế học hiện đại – đặc biệt là sau các đóng góp của John Maynard Keynes – đã khẳng định rằng: Chính phủ không thể đứng ngoài, mà phải chủ động can thiệp để ổn định nền kinh tế trong ngắn hạn.
Và sự can thiệp đó được thực hiện thông qua hai công cụ cốt lõi:
– Chính sách tài khóa (Chính phủ giao cho Bộ Tài chính thực hiện)
– Chính sách tiền tệ (giao cho Ngân hàng Trung ương thực hiện)
Cho các bạn không nhớ thì:
Tôi sẽ giới thiệu lại hệ thống của chúng ta:
Thì chúng ta sẽ thấy rằng, cấp cao nhất là QUỐC HỘI – cơ quan này sẽ quyết định các mục tiêu lớn của nền kinh tế và giao các chỉ tiêu cho CHÍNH PHỦ. Ví dụ như năm 2026 mục tiêu lạm phát khoảng 4% và tăng trưởng GDP khoảng 10%.
Sau đó, CHÍNH PHỦ sẽ nhận các mục tiêu này và phân bổ xuống hai cơ quan quan trọng ở Việt Nam:
– Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ phụ trách CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ.
– Bộ Tài chính Việt Nam (bao gồm cả hệ thống Kho bạc Nhà nước) sẽ phụ trách CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ, tức là thu – chi ngân sách.
Mình sẽ đi sâu vào mô hình này bởi vì nó mang tính ứng dụng cao hơn khi chúng ta phân tích vĩ mô để đầu tư trong bối cảnh mình đang ở VIỆT NAM
Tại vì mô hình NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG của Việt Nam bạn phải nhìn thấy rằng nó vẫn trực thuộc CHÍNH PHỦ (ví dụ thủ tướng nói thì NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC vẫn phải nghe, nó thiếu sự độc lập hơn so với các ngân hàng trung ương khác như là trên thế giới, thế nên khi mà chúng ta phân tích thì chúng ta phải phân tích được cả yếu tố đó nữa – đấy là cái điểm mà chúng ta đi vào phân tích vĩ mô)

Chúng ta sẽ đi sâu vào chính sách tài khóa + chính sách tiền tệ để hiểu rõ Chính phủ tác động vào nền kinh tế như thế nào, và vì sao công cụ này lại có thể làm thay đổi tổng cầu, từ đó kéo nền kinh tế ra khỏi suy thoái hoặc kiểm soát lạm phát.

Vậy nhắc lại, CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ sẽ tác động vào đâu? TỔNG CUNG hay TỔNG CẦU?
Chúng ta hãy cùng xem:
CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ nó sẽ có hai tác động:
1. MỞ RỘNG
2. THU HẸP
Nếu như MỞ RỘNG:
– Tức là CHÍNH PHỦ [Tăng chi tiêu, giảm thuế] thì nó sẽ làm TĂNG CẦU thì trường hợp này nó sẽ xử lý SUY THOÁI.

Bây giờ chúng ta sẽ xem chính phủ xử lý suy thoái như thế nào.
Chúng ta vẽ lại mô hình Tổng cung – Tổng cầu (hình 3).
Cung và cầu cắt nhau tại điểm cân bằng A (GDP1; P1).
Khi nền kinh tế đang ở mức GDP1 và muốn tăng trưởng sang bên phải, thì chính phủ phải tăng cầu. Khi đó, đường cầu 1 dịch chuyển sang đường cầu 2, và nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới tại điểm B (GDP2; P2).
So sánh hai trạng thái A và B, ta thấy:
– GDP1 -> GDP2: có sự tăng trưởng, tức là thoát suy thoái
– P1 -> P2: mức giá tăng lên, nghĩa là xuất hiện lạm phát
Như vậy, khi nền kinh tế suy thoái, muốn tăng trưởng GDP thì chính phủ phải chi tiêu để đẩy đường cầu ra, và chấp nhận một mức lạm phát nhất định (từ trạng thái A sang trạng thái B, giá tăng từ P1 -> P2).
Nhìn về quá khứ, trong giai đoạn COVID, chính phủ Mỹ và cả Việt Nam cũng đã làm theo cách này.
Khi xử lý suy thoái, chính phủ phải mở rộng chi tiêu. Chúng ta còn nhớ giai đoạn đó, nhiều người đã nhận được các khoản trợ cấp từ chính phủ. Điều này trực tiếp làm tăng tổng cầu, từ đó giúp GDP tăng lên. Và tất nhiên, đi kèm với đó là áp lực lạm phát.
Giai đoạn COVID
Chính phủ Mỹ tung các gói hỗ trợ khổng lồ (stimulus checks, trợ cấp thất nghiệp…)
Ở Việt Nam cũng có các gói hỗ trợ, giãn thuế, tăng chi tiêu
-> Người dân có tiền
-> Tiêu dùng phục hồi
-> GDP phục hồi
Nhưng hệ quả đi kèm:
-> Sau đó là lạm phát tăng mạnh (đặc biệt giai đoạn 2021-2022)
Rồi, bây giờ sẽ có một nhánh nữa: chính sách tài khóa có một nhánh nữa đó là THU HẸP (hình 4).
Tức là giảm chi tiêu, tăng thuế -> làm giảm cầu.
Vậy ở đây chính phủ đang xử lý vấn đề gì? Đó là khi họ muốn xử lý lạm phát.
Chúng ta sẽ thấy rằng nếu sử dụng đúng cách thì chính phủ có độ linh hoạt rất cao với công cụ chính sách tài khóa – vì bản thân công cụ này có thể dùng để xử lý cả suy thoái lẫn lạm phát. Vấn đề không nằm ở công cụ, mà nằm ở thời điểm và liều lượng. Đây có thể là một trong những cách đánh giá một chính phủ GIỎI hay KÉM
Bây giờ mình đi vào case xử lý lạm phát (hình 4):
Vẫn như bình thường, chúng ta có đường cung – đường cầu.
Tại trạng thái ban đầu, cung 1 cắt cầu 1 tại điểm cân bằng A với GDP1 và mức giá P1 -> A (GDP1; P1).
Nếu chính phủ đánh giá rằng mức giá P1 là quá cao, tức là nền kinh tế đang chịu áp lực lạm phát, thì họ sẽ thắt chặt chi tiêu (giảm chi tiêu công, tăng thuế).
Khi đó, tổng cầu sẽ bị kéo xuống, đường cầu dịch chuyển sang trái (cầu 1 -> cầu 2).
Kết quả:
– Mức giá giảm từ P1 xuống P2 -> lạm phát được kiểm soát
– Nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới tại B (GDP2,P2)
– Nhưng đánh đổi là GDP cũng giảm (GDP2 < GDP1)
Không có chính sách nào là “miễn phí”.
Muốn giảm lạm phát thì phải chấp nhận hy sinh tăng trưởng trong ngắn hạn.
Đó chính là bài toán mà bất kỳ chính phủ nào cũng phải cân nhắc:
giữa ổn định giá cả và duy trì tăng trưởng, luôn tồn tại một sự đánh đổi.
Hôm nay chúng ta chủ yếu tìm hiểu về nguyên lý, tức là cách mà chính phủ nhìn vào vấn đề và lựa chọn cách tác động.
Về cơ bản, chính phủ có thể tác động vào tổng cầu thông qua chính sách tài khóa, tức là thông qua thu – chi ngân sách:
– Nếu muốn xử lý lạm phát -> họ sẽ giảm cầu (chính sách tài khóa thu hẹp: giảm chi tiêu, tăng thuế)
– Nếu muốn thúc đẩy tăng trưởng -> họ sẽ xử lý suy thoái bằng cách mở rộng ngân sách (tăng chi tiêu, giảm thuế)
Bản chất chỉ xoay quanh một điểm: điều chỉnh cầu để điều tiết nền kinh tế.
Nếu các bạn đã đọc các phần trước thì sẽ thấy logic này thực ra rất rõ ràng.
Còn nếu học theo lộ trình truyền thống, thường phải mất vài năm trong trường kinh tế mới có thể hệ thống hóa được cách nhìn này.

Rồi, chúng ta sẽ đi tiếp một chính sách nữa:
Đó là CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Cũng tương tự như vậy thôi:
– Đầu tiên là chính sách tiền tệ mở rộng: tăng cung tiền (ở đây chúng ta xử lý theo logic). Khi tăng cung tiền thì sao? Khi đó lãi suất giảm – rất đơn giản, ai cũng hiểu 😉
Lãi suất giảm thì sao? -> Vay nhiều tiền hơn -> đầu tư nhiều hơn -> thu nhập tăng lên (ở đây là xét trên toàn bộ nền kinh tế) -> khi thu nhập tăng thì chi tiêu cũng tăng.
Như vậy, chúng ta thấy rằng: khi chính sách tiền tệ mở rộng được áp dụng thì nó sẽ làm cho đường tổng cầu dịch sang bên phải (hình 5).
– Thứ hai là chính sách tiền tệ thắt chặt: giảm cung tiền (giảm cung tiền cụ thể là gì, hệ số nhân tiền tệ vận hành ra sao… chúng ta sẽ đi chi tiết sau, còn bây giờ tập trung vào cơ chế vận động trước).
Khi giảm cung tiền -> lãi suất tăng -> mọi thứ diễn ra ngược lại:
lãi suất tăng thì việc vay vốn trở nên đắt đỏ -> đầu tư giảm -> thu nhập giảm -> chi tiêu giảm -> tổng cầu giảm (hình 6).

Rồi, sau khi chúng ta đã tìm hiểu rất kỹ lý thuyết về chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và đã nắm được cung tiền, thì bây giờ chúng ta cùng làm một bài tập để hệ thống lại.
Quay lại câu hỏi đầu bài viết:
– Mọi người có biết Ben Bernanke không?
Bây giờ giả sử bạn là Thống đốc Mỹ năm 2008, với một số thông tin như sau:
1. Thị trường chứng khoán giảm một nửa giá trị
2. Chi tiêu, tiêu dùng thắt chặt (tâm lý hoảng loạn, ngân hàng phá sản hàng loạt)
3. GDP giảm 2,5%
4. Giá giảm 2,8%
Câu hỏi 1: Trường hợp này là sốc cung hay sốc cầu? Tiêu cực hay tích cực?
Chúng ta đã TÌM HIỂU TỪ BÀI VIẾT TRƯỚC rồi: đây là sốc cầu tiêu cực. (xem lại: https://www.facebook.com/share/p/18w2bomVPh/

Bản chất là tâm lý sợ hãi khiến tất cả mọi người đồng loạt giảm chi tiêu.
Rồi, tiếp theo, chúng ta phân tích case này:
Bước 1: Vẽ lại hiện trạng (HÌNH 7)
Chúng ta có mô hình Tổng cung – Tổng cầu :
– Cung 1 cắt Cầu 1 tại A (GDP1; P1)
Khi xảy ra sốc cầu:
– Cầu dịch chuyển sang trái (Cầu 1 -> Cầu 2)
– Lúc này gần như không còn ai muốn chi tiêu
Kết quả:
– Điểm cân bằng chuyển sang B (GDP2; P2)
Quan sát:
– GDP giảm 2,5% (từ GDP1 xuống GDP2)
– Mức giá giảm 2,8% (từ P1 xuống P2)
-> Đây là suy thoái kèm giảm phát

Câu hỏi tiếp theo: Nếu bạn là thống đốc, bạn có can thiệp hay không?
Thực tế, để thuyết phục được Quốc hội can thiệp, Ben Bernanke đã mất rất nhiều thời gian. Và sau đó, ông triển khai gói QE đầu tiên – tức là Quantitative Easing (nới lỏng định lượng).
Bản chất của QE là:
-> bơm tiền vào nền kinh tế
-> kéo đường tổng cầu dịch chuyển sang phải
-> đưa nền kinh tế quay trở lại gần mức ban đầu.
Nếu như không can thiệp thì sao?

Ban đầu NỀN KINH TẾ đang ở trạng thái cân bằng A(GDP1;P1) sau khi sốc cầu nó chạy về B(GDP2;P2), chúng ta vẽ ĐƯỜNG CUNG DÀI HẠN (qua A // trục tung), Nếu để thị trường tự điều chỉnh, theo lý thuyết, nền kinh tế sẽ dần dịch chuyển về điểm cân bằng dài hạn C như vậy đường CUNG 1 sẽ chạy về CUNG 2 (đường này qua C // CUNG 1). Nhìn hình ta thấy cung mà dịch chuyển sang Phải. Trong nền kinh tế không có cải thiện về năng suất, không có công nghệ mới, không có vốn mới, mà tổng cung vẫn dịch chuyển sang phải, thì lý do gần như duy nhất là chi phí đầu vào phải giảm, và chi phí quan trọng nhất chính là tiền lương.
Trong bối cảnh một cú sốc như COVID, mà không có yếu tố dăhc biệt về năng xuất, chúng ta cứ để im -> dẫn đến suy thoái và chúng ta phải chấp nhận tiền lương của chúng ta giảm đi và dẫn điến hiện trạng là thất nghiệp
(nếu chư hiểu đọc bài này: https://www.facebook.com/share/p/1Aam57LejB/
Tóm lại nếu để im:
– Tiền lương giảm.
– Thất nghiệp tăng cao
– Quá trình điều chỉnh có thể kéo dài nhiều năm
(Phần này đã được đề cập rõ ở trên đầu bài nhé)
Tức là về mặt lý thuyết thì có điểm cân bằng mới, nhưng về mặt thực tế thì cái giá phải trả là rất lớn.
Đó chính là lý do vì sao các nhà hoạch định chính sách không thể ngồi yên chờ thị trường tự điều chỉnh.
Nhân tiện, Ben Bernanke là một trong những người được trao Nobel Prize in Economic Sciences (cùng các cộng sự) vì những nghiên cứu liên quan đến khủng hoảng tài chính và vai trò của hệ thống ngân hàng.
Chúng ta có thể thấy một điểm rất quan trọng:
– Lý thuyết thì có thể trình bày rất mạch lạc
– Nhưng để thuyết phục chính phủ hành động đúng thời điểm lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.

Và đó cũng là lý do tại sao nếu chúng ta xây dựng được một tư duy rõ ràng, có hệ thống, thì khi nhìn vào các vấn đề vĩ mô, mọi thứ sẽ trở nên rất dễ hiểu.

Rồi một ví dụ nữa:
Năm 2020: Covid xảy ra, thì hỏi nhanh mọi người là SỐC CUNG hay SỐC CẦU?
Rồi, rất đơn giản: đó là SỐC CẦU TIÊU CỰC.
Ban đầu kinh tế đang ở trạng thái A (GDP1, P1). Hình 8
Covid xảy ra.
Khi đó CẦU 1 dịch chuyển sang trái: CẦU 1 -> CẦU 2, điểm cân bằng mới là B (GDP2, P2).
Khi đó, nếu là chính phủ, chúng ta biết hậu quả sẽ xảy ra nếu để nền kinh tế tự điều chỉnh, nên sẽ bơm tiền để nền kinh tế có xu hướng dịch chuyển trở lại phía điểm A.
Về lý thuyết, khi Covid xảy ra, đường CẦU 1 sẽ dịch chuyển về CẦU 2. Tuy nhiên, do chính phủ can thiệp hỗ trợ, nên CẦU 1 được đẩy sang CẦU 3 (cố tình đẩy lên mức cầu cao hơn, bơm cả chính sách tài khoá lẫn chính sách tiền tệ vào). Khi đó, điểm cân bằng mới là C (GDP3, P3) – xem hình 8B

Khi đó, vấn đề mới bắt đầu hình thành:
– GDP có tăng (GDP3 > GDP2),
– nhưng đồng thời xuất hiện lạm phát (mức giá lúc này P3 > mức giá cũ P1). HÌNH 8B
Và lúc đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) vẫn cho rằng đây là mức giá có thể kiểm soát được. Ở bối cảnh thời điểm đó (năm 2021), nhận định này là hợp lý, bởi vì chưa có cú sốc lớn nào tiếp theo, và lạm phát được xem là hiện tượng nhất thời, có thể đưa về mức bình thường theo lộ trình chính sách.
Đến năm 2022: xuất hiện một sự kiện lớn là Chiến tranh Nga-Ukraine -> giá dầu tăng mạnh.
Rất “đen” là khi giá dầu tăng, nó gây ra SỐC CUNG TIÊU CỰC-> đường cung dịch chuyển sang trái (giảm cung). cơ chế này đã được giải thích kỹ ở đây: https://www.facebook.com/share/p/18w2bomVPh/
Lúc này, điểm cân bằng dịch chuyển từ C (GDP3, P3) sang D (GDP4, P4) – xem hình 8.C
Từ đây xuất hiện một vấn đề rất lớn:
– GDP giảm (GDP3 -> GDP4),
– trong khi giá lại tăng mạnh (P4 > P3).
Đây là trạng thái cực kỳ nguy hiểm: nền kinh tế vừa suy thoái vừa lạm phát cao (stagflation).
Rồi câu hỏi quan trọng: Năm 2023 chúng ta nên làm gì?
Chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ có nên tiếp tục mở rộng nữa không hay phải thắt chặt?
Đây chính là bài toán đánh đổi (trade-off) kinh điển:
– Nếu tiếp tục MỞ RỘNG -> cứu tăng trưởng nhưng lạm phát có thể bùng nổ.
– Nếu THẮT CHẶT -> kiểm soát lạm phát nhưng chấp nhận tăng trưởng chậm lại, thậm chí suy thoái ngắn hạn.
Và thực tế, đa số các ngân hàng trung ương (trong đó có FED) đã lựa chọn THẮT CHẶT TIỀN TỆ để ưu tiên kiểm soát lạm phát trước, vì nếu để lạm phát mất kiểm soát thì hậu quả dài hạn sẽ nghiêm trọng hơn rất nhiều.
Đó là cách tư duy để bạn nắm vững bản chất của chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong thực tế.

📌 Nguồn Tham Khảo & Bản Quyền Nội Dung

Bài viết được trích xuất và lưu trữ từ trang chính thức CMB Investing – Cố Vấn Đầu Tư VPS. Xem bài viết gốc trên Facebook ↗

CMB Investing ⸺ Chia Sẻ Giá Trị Thực

Mỗi ấn phẩm Tạp Chí CMB được chắt lọc từ những chiêm nghiệm sống và phân tích đầu tư thực chiến, nhằm đồng hành cùng các anh chị trên con đường tự do tài chính.

0%
Giọng đọc Chị Google
Chị Google (Mặc định) • Đoạn 1/--
Bản Tin Thứ Bảy Hàng Tuần

Nhận Tạp Chí CMB Trực Tiếp Qua Hộp Thư

Đăng ký hoàn toàn miễn phí để không bỏ lỡ những bài viết chuyên sâu vào mỗi cuối tuần.

Miễn phí • Không spam • Hủy bất cứ lúc nào

Trang Chủ Podcast Khóa Học Thư Viện Học Viên