(Series đầu tư bài bản – Tiếp theo) CÁCH XEM SỐ LIỆU & DỰ PHÓNG KINH TẾ ĐẦU TƯ (TIỀN GỬI – VÀNG – BĐS – CHỨNG KHOÁN)

Phát hành: 09/05/2026 • Chuyên mục: Tạp chí định kỳ CMB
64 phút đọc • ~12,635 từ
Tiến trình đọc: 0%

Phần trước: https://www.facebook.com/share/p/1RQLdjQp3V/

Tôi có một mảnh đất khá là rộng. Trên mảnh đất đó có tài nguyên, có con người, và từ đây tôi bắt đầu hình dung ra một nền kinh tế thu nhỏ trong một sơ đồ. Mọi thứ trong kinh tế thực chất xoay quanh việc: làm sao sử dụng nguồn lực hữu hạn (đất, lao động, vốn) để tạo ra nhiều giá trị nhất….

Bài chia sẻ này mình chỉ muốn hướng dẫn cho chúng ta cách xem số liệu kinh tế ở đâu, đọc số liệu như thế nào và quan trọng hơn là hiểu bản chất của từng con số đó trong nền kinh tế.
Bài này rất quan trọng, vì ở những phần tiếp theo chúng ta sẽ cùng nhau bóc tách hai chỉ số quan trọng nhất của nền kinh tế là GDP và CPI.

Sau khi hiểu được GDP và CPI vận động như thế nào, chúng ta sẽ bắt đầu đi đến bước quan trọng hơn: dự phóng trước xu hướng của nền kinh tế để cơ cấu danh mục đầu tư, từ đó tối ưu hóa lợi nhuận và quản trị rủi ro tốt hơn.
Và như ở các bài trước chúng ta cũng đã phần nào hiểu được vì sao GDP và CPI lại quan trọng như vậy. Vì cuối cùng, gần như toàn bộ chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, lãi suất, dòng tiền và định giá tài sản trên thị trường đều xoay quanh hai biến số này.

Điều hành kinh tế vĩ mô ở Việt Nam:
Chúng ta đã có rất nhiều bài viết về kinh tế học rồi, bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu xem cách hành xử của CHÍNH PHỦ như thế nào khi CÁC CHỈ SỐ THAY ĐỔI (ex: GDP, CPI… )
Chúng ta sẽ đi rất tổng quan nguyên lý hoạt động của nền kinh tế, nguyên lỹ kinh tế vĩ mô, cách thức chính phủ can thiệp.

Mình sẽ giới thiệu hệ thống của NHÀ NƯỚC VIỆT NAM:
Cao nhất của chúng ta chính là QUỐC HỘI, QH sẽ giao các cái chi tiêu cho CHÍNH PHỦ, ví dụ như năm nay 2026 4,5% là tăng trưởng lạm phát và 10% là tăng trưởng GDP thì sau đó CHÍNH PHỦ sẽ nhận và giao cho hai cơ quan ở Việt Nam đó là
– NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC sẽ phụ trách: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ và
– BỘ TÀI CHÍNH (bao gồm KHO BẠC – họ sẽ kiểm soát CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ)

Mình sẽ đi sâu vào mô hình này này bởi vì cái này mang tính ứng dụng cao hơn đối với cả chúng ta khi mà chúng ta phân tích trong bối cảnh Việt Nam. Tại vì mô hình NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG của Việt Nam nó vẫn trực thuộc CHÍNH PHỦ (ví dụ thủ tướng nói thì NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC vẫn phải nghe, nó thiếu sự độc lập hơn so với các ngân hàng trung ương khác như là trên thế giới, thế nên khi mà chúng ta phân tích thì chúng ta phải phân tích được cả yếu tố đó nữa – đấy là cái điểm mà chúng ta đi vào phân tích vĩ mô)

Hay mình sẽ viết lại một cách “HỌC THUẬT” hơn:
Về nguyên tắc điều hành kinh tế vĩ mô, Việt Nam hiện vận hành theo mô hình hai trụ cột chính:
– Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sẽ phụ trách chính sách tiền tệ.
Đây là cơ quan điều tiết lượng tiền trong nền kinh tế thông qua các công cụ như lãi suất điều hành, dự trữ bắt buộc, tín dụng và tỷ giá. Mục tiêu cốt lõi của NHNN là kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền và đảm bảo sự an toàn của hệ thống ngân hàng. Có thể hiểu đơn giản: NHNN quyết định “tiền trong nền kinh tế nhiều hay ít, rẻ hay đắt”.
-Trong khi đó, Bộ Tài chính (bao gồm cả hệ thống Kho bạc Nhà nước) sẽ phụ trách chính sách tài khóa.
Chính sách này liên quan đến việc Nhà nước thu – chi ngân sách, bao gồm thuế, chi đầu tư công, chi thường xuyên và quản lý nợ công. Kho bạc Nhà nước đóng vai trò trung tâm trong việc kiểm soát dòng tiền ngân sách, đảm bảo chi tiêu đúng mục tiêu, đúng tiến độ và trong giới hạn an toàn tài khóa.
Nếu nhìn ở góc độ vận hành nền kinh tế, có thể hiểu đơn giản:
– Chính sách tiền tệ (NHNN) tác động đến “dòng tiền và chi phí vốn” trong nền kinh tế.
– Chính sách tài khóa (Bộ Tài chính + Kho bạc) tác động đến “cầu của Nhà nước” và mức độ chi tiêu công.
Hai chính sách này nếu phối hợp nhịp nhàng sẽ tạo ra hiệu ứng cộng hưởng: vừa kiểm soát được lạm phát, vừa hỗ trợ tăng trưởng. Ngược lại, nếu lệch pha (tiền tệ thắt – tài khóa nới hoặc ngược lại) thì nền kinh tế dễ rơi vào mất cân đối vĩ mô, gây áp lực lên lãi suất, tỷ giá và nợ công.
– XEM HÌNH 1
Những CHỈ BÁO của NỀN KINH TẾ – Xem HÌNH 2

Những CHỈ BÁO của NỀN KINH TẾ thì chúng ta KHÔNG CÓ đầy đủ tất cả các chỉ báo như (HÌNH 2)
– Dẫn dắt
– Chỉ báo đồng thời
– Chỉ báo trễ
như trên thế giới
Thì ở đây mình đã liệt kê những chỉ số màu đỏ (Hình 2) mà chúng ta có.
Và mình đã phât tách rất rõ ra rằng: CHỈ BÁO KINH TẾ Việt Nam bao gồm những chỉ số gì mà các bạn cần quan tâm
– Ví dụ như CHỈ BÁO TRƯỚC, CHỈ BÁO ĐỒNG THỜI, CHỈ BÁO TRỄ thì có những cái nhóm như thế nào (HÌNH 3)
Rồi, bây giờ mình sẽ đi vào từng chỉ báo một:

1. CHỈ BÁO TRƯỚC (Chúng ta theo dõi Hình 3)
Ví dụ như chỉ báo trước thì
– Doanh thu bán lẻ dịch vụ % (hình 3):
https://vn.investing.com/economic-calendar/vietnamese-retail-sales-1854

Và khi chúng ta xem chúng ta hãy đặt các cái câu hỏi: cái này tại sao nó lại là như vậy,
Ví dụ như chúng ta nhìn từ ngày 29/1/2020 -> 29/4/2020 lại sụt từ 10,02% xuống còn -26% thì bạn nhớ lúc đó là covid và từ đó chúng ta sẽ nhìn thấy ngay tổng cầu và tổng cung nó ảnh hưởng từ chỗ này. (nhớ xem số liêu ở link minh gửi thì mới có thể hiểu được vì đây là phần thực hành)

Ví du từ 24/4/2021 – 29/8/2021 giảm từ 30,9% xuống -33,7% (ở đây có sự kiện là:
Giai đoạn 29/4/2021 – 29/8/2021 trùng với đỉnh của làn sóng COVID-19 lần thứ 4 tại Việt Nam (biến thể Delta) – đây là nguyên nhân chính khiến doanh số bán lẻ sụt mạnh.

Làn sóng Delta bùng phát mạnh (từ cuối tháng 4/2021)
Từ cuối tháng 4/2021, dịch COVID-19 bắt đầu lan rộng trở lại.
Đến tháng 6–8/2021, đặc biệt là:
– TP.HCM
– Bình Dương
– Đồng Nai
-> bị phong tỏa nghiêm ngặt theo Chỉ thị 16.
Đây là giai đoạn “lockdown nặng nhất” trong toàn bộ COVID-19 tại Việt Nam.

Hoặc bạn có thể xem DOANH THU BÁN LẺ HÀNG HOÁ & DỊCH VỤ ở đây: https://widata.vn/vi-mo/vn/search?macroTargetID=19
bạn vào biểu đồ này xem số liệu
Từ ngày 29/2/2020 – đến ngày 30/4/2020 giảm từ 394,572.25 (tỷ VNĐ) xuống còn 290,949.36 (tỷ VNĐ) (giảm 26,6%)
Rồi 28/2/2021 đến 31/8/2021 giảm từ 405,381.54 xuống còn 303,605.2 (đơn vị tỷ VND)
(cùng thời với giai đoạn ở trên thời covid)
Trong khi đó nhìn biểu đồ thì: trong thời gian rất là dài tốc độ tăng trưởng của chúng ta rất là ổn định (2006-2019)
Đấy thì nhìn vào biểu đồ chúng ta có thể thấy và giải thích được tại sao biểu đồ nó lại như vậy.
Tiếp đến chúng ta cũng có cái chỉ số: CHÊNH LỆCH LÃI XUẤT NGẮN HẠN VÀ DÀI HẠN (Hình3)
– Ngắn hạn Vietnam 1Y = lãi suất trái phiếu Chính phủ Việt Nam kỳ hạn 1 năm
– D hạn Vietnam 10Y = lãi suất trái phiếu Chính phủ Việt Nam kỳ hạn 10 năm
Bạn xem Vietnam 10y ở đây: https://tradingeconomics.com/vietnam/government-bond-yield
k xem được 1Y.

Nếu muốn so sánh VIETNAM 1Y vs. VIETNAM 10Y thì chúng ta xem ở đây:

https://widata.vn/vi-mo/md/loi-suat-trai-phieu?timeFrame=yearly&valueType=value

Vào Widata.vn tìm kiếm Vietnam 1Y sau cùng trên biểu đồ ấy tìm kiếm Vietnam 10Y

Khi tích chọn Vietnam 1Y và Vietnam 10Y, chúng ta sẽ thấy độ dốc của đường cong lợi suất. Đây là một trong những chỉ báo dẫn dắt rất quan trọng của chu kỳ kinh tế và kỳ vọng lãi suất trong tương lai.

Chúng ta có chỉ số nữa đó là CHỈ SỐ QUẢN TRỊ NHÀ MUA HÀNG – PMI

Bạn xem PMI ở đây: https://widata.vn/vi-mo/vn/search?macroTargetID=55

Trên trang Tradingeconomics.com không có.

Rồi chúng ta cũng có thể thấy ở thời kỳ COVID:
31/1/2020 – 30/4/2020 , PMI giảm tử 50.6 xuống còn 32.7

Những chỉ số này nó phải ánh rất là trực tiếp.

PMI phản ánh trực tiếp hoạt động sản xuất và đơn hàng mới của doanh nghiệp. Nếu PMI trên 50, nền kinh tế sản xuất đang mở rộng; nếu dưới 50, hoạt động sản xuất bắt đầu suy yếu.
Trong giai đoạn COVID, từ tháng 2/2021 đến tháng 9/2021, PMI của Việt Nam giảm mạnh khi hoạt động sản xuất bị đình trệ bởi phong tỏa và đứt gãy chuỗi cung ứng. Đây là ví dụ cho thấy PMI phản ánh rất nhanh những biến động của nền kinh tế thực.

Tiếp theo đến CHỈ SỐ TRÙNG (ĐỒNG THỜI) – Hình 3 Phần chỉ số đồng thời

Chúng ta cũng có chỉ số sản suất công nghiệp IIP – bài viết sau mình sẽ phân tách kỹ từng ngành một

https://widata.vn/vi-mo/vn/iip

Chúng ta sẽ đi rất là kỹ chỉ số IIP vì đây là thành phần cấu thành của GDP.

Và chỉ BÁO TRỄ:
Ở đây quan trọng nhất là GDP
GDP thì chúng ta phải hiểu thế nào là giá hiện hành (như thế nào GDP TÍNH THEO GIÁ HIỆN HÀNH), Thế nào là giá so sánh . Và chúng ta phải học cách để chúng ta nhìn các cái dữ liệu để chúng ta có thể rút ra kết luận là hành xử tiếp theo của chính phủ là gì và như vậy nó sẽ ảnh hưởng đến lãi xuất ra làm sao (Vì lãi xuất là yếu tố quan trọng trong đầu tư nếu lạc bạn xme lại biểu đồ HÌNH 9.😎

– GDP (năm): có GDP thực năm và GDP danh nghĩa năm
Cách 1:
Xem trên tradingeconomics.com bạn search: Vietnam GDP
GDP Danh nghĩa năm: https://tradingeconomics.com/vietnam/gdp,
Các 2 Xem trên:
https://widata.vn/

Bạn cài số liệu từ Quartely sang Yearly là đc: https://widata.vn/vi-mo/vn/gdp-thuc?timeFrame=quarterly&valueType=value (thực năm)

GDP danh nghĩa năm: https://widata.vn/vi-mo/vn/search?macroTargetID=152)

– GDP danh nghĩa năm-> tính theo mức giá hiện tại
– GDP thực năm -> đã loại bỏ lạm phát để đo tăng trưởng thực tế của nền kinh tế.

– GDP Hiện hành (quý) = GDP danh nghĩa (Q) https://widata.vn/vi-mo/vn/search?macroTargetID=152 (nhớ cài dặt số liệu Quaterly)
– GDP So sánh = (quý) GDP thực (Q) : https://widata.vn/vi-mo/vn/gdp-thuc?timeFrame=quarterly&valueType=value Bạn vào link này rồi tích vào ô vuông GDP thực ở dưới)
Hoặc xem trên https://tradingeconomics.com/ bạn search: Vietnam GDP Constant Prices
https://tradingeconomics.com/vietnam/gdp-constant-prices thì đây chính là GDP thực (Q)

Nói lại một chút:
GDP giá hiện hành là cách tính GDP bằng mức giá của chính thời điểm đó, nên GDP có thể tăng chỉ vì giá cả tăng do lạm phát, dù sản lượng thực tế không đổi. Ngược lại, GDP giá so sánh sẽ cố định mức giá của một năm gốc để tính cho các năm sau, nhằm loại bỏ ảnh hưởng của lạm phát và phản ánh chính xác nền kinh tế có thật sự sản xuất nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn hay không. Nói đơn giản, GDP hiện hành đo “quy mô tiền”, còn GDP so sánh đo “tăng trưởng thực chất” của nền kinh tế.
Ví dụ: năm 2025 nền kinh tế sản xuất 100 tô phở với giá 50.000 đồng/tô thì GDP là 5 triệu đồng. Sang năm 2026 vẫn chỉ bán 100 tô phở nhưng giá tăng lên 60.000 đồng do lạm phát, lúc này GDP giá hiện hành sẽ tăng lên 6 triệu đồng. Tuy nhiên, thực tế nền kinh tế không sản xuất thêm tô phở nào cả. Vì vậy khi tính GDP giá so sánh, người ta vẫn dùng mức giá cũ 50.000 đồng để tính, kết quả GDP vẫn là 5 triệu đồng. Điều này cho thấy nền kinh tế không thật sự tăng trưởng, mà chỉ là giá cả tăng lên.

– GDP (năm): Tổng giá trị kinh tế của cả năm -> dùng để đánh giá tăng trưởng dài hạn
– GDP hiện hành (quý) = GDP Danh nghĩa (Q): GDP theo giá hiện tại -> phản ánh quy mô tiền, có cả lạm phát
– GDP so sánh (quý) = GDP thực (Q): GDP đã loại lạm phát -> phản ánh tăng trưởng thực, quan trọng nhất để phân tích kinh tế & thị trường

Tiếp theo là CPI – lạm phát:
Chúng ta sẽ học rất kỹ cách tính CPI như thế nào:
Mình đã có hướng dẫn qua các loại CPI rồi và loại CPI nào là CPI mà Quốc hội ra thông báo cho chúng ta hay còn gọi là lạm phát: xem lại ở bài viết này:
https://www.facebook.com/share/p/1KDTzBibJA/

Trên trang Tradingeconomics.com bạn search:
CPI Price, nominal
https://tradingeconomics.com/vietnam/cpi-price-nominal-wb-data.html
Còn trang widata.vn
Bạn search: CPI

Chúng ta thấy tại sao lại hai số liệu khác nhau ở đây
Trên trang Tradingeconomis,com là tình theo cách tình của quỹ tiền tệ quốc tế IMF
Còn trên trang Widata là tính theo tổng cục thống kê VN (mình sẽ có bài viết giải thích sau – vì quá dài rồi)

Còn lạm phát tức là CPI (YOY Ave – chúng ta đã tìm hiểu kỹ ở bài viết trước rồi – có thể xem lại link vửa rồi)
Trang tradingeonomics,com bạn search: Vietnam inflation rate rồi chỉnh biểu đồ bạn muốn tuỷ thích:
https://tradingeconomics.com/vietnam/inflation-cpi

Còn ở widata,vn bạn chỉ việc search:
Lạm phát (CPI YOY Ave)

Rồi, từ GDP và Lạm phát (nó chính là CHỈ SỐ KINH TẾ) từ đó chúng ta (tức là chính phủ) sẽ ra các chính sách cuối cùng đó là CHÍNH SÁCH KINH TẾ bao gồm chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ cụ thể nó nhìn ở trên biểu đồ như thế nào:
Chính sách tài khoá:
– TỔNG THU NGÂN SÁCH
– TỔNG CHI NGÂN SÁCH

Biểu đồ nó như thế này:

-TỔNG THU NGÂN SÁCH : https://widata.vn/vi-mo/vn/search?macroTargetID=1276
– TỔNG CHI NGÂN SÁCH : https://widata.vn/vi-mo/vn/search?macroTargetID=1300
Thực tế chúng ta search: Tổng thu ngân sách:
Sau đó chúng ta search : Tổng chi ngân sách
thì khi đó chúng ta sẽ có biểu dồ bao gồm tổng thu + tổng chi

Chính sách tiền tệ:

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ MỞ RỘNG – THẮT CHẶT

Cách 1: Xem trên Tradingeconomics.com
bạn search: vietnam interest rate

https://tradingeconomics.com/vietnam/interest-rate

Cách 2 xem trên widata.vn

bạn search: LÃI XUẤT PHẤT HÀNH OMO là ra
https://widata.vn/vi-mo/vn/search?macroTargetID=4155

Từ đây ta xem chính sách mở rộng thắt chặt ở đâu (HÌNH A)
Khi nào mở rộng, khi nào thắt chặt:
Lãi suất OMO là “giá của đồng tiền” mà Ngân hàng Nhà nước cho hệ thống ngân hàng vay ngắn hạn. Khi NHNN giảm lãi suất OMO, tiền trở nên rẻ hơn, ngân hàng dễ vay hơn, tín dụng và dòng tiền thường được nới lỏng – đó là dấu hiệu của chính sách tiền tệ mở rộng. Ngược lại, khi NHNN tăng lãi suất OMO, chi phí vốn tăng lên, dòng tiền bị siết lại – đó là dấu hiệu của chính sách tiền tệ thắt chặt.

Tôi sẽ phân tích rất kỹ về nghiệp vụ ngân hàng ở bài viết sau, ở đây tôi chỉ giới thiệu cách bạn xem số liệu ở đâu.

Rồi bây giờ chúng ta sẽ tập trung đi sâu vào các chỉ số (bài viết trước chúng ta đã biết sơ qua rồi, bây giò tôi sẽ giới thiệu sâu hơn.)

Rồi bây giờ chúng ta sẽ cùng tập trung vào các chỉ số kinh tế.
Chúng ta sẽ phân tách thật rõ mối quan hệ giữa:
– Chỉ số dẫn dắt
– Chỉ số đồng thời
– Chỉ số trễ
Để hiểu bản chất của từng loại chỉ số là gì, nó phản ánh điều gì trong nền kinh tế, và tại sao có những chỉ số lại đặc biệt quan trọng đối với nhà đầu tư.
Sau đó chúng ta sẽ đi vào hai vấn đề cốt lõi nhất của kinh tế vĩ mô:
– GDP
– Lạm phát
Ở những phần trước chúng ta đã biết rằng: CHÍNH PHỦ và NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG sẽ tác động vào TỔNG CẦU nhằm cố gắng đạt được:
– GDP kế hoạch và
– Lạm phát mục tiêu
(Xem hình 4)
Nhưng bây giờ mình có một câu hỏi rất quan trọng:
Liệu các CHỈ SỐ KINH TẾ có luôn phản ánh đúng thực tế hay không?
Ví dụ rất nhiều người hỏi:
“Tại sao GDP tăng 8,02% mà ngoài thực tế ở Bình Dương vẫn thất nghiệp nhiều, doanh nghiệp vẫn khó khăn?”

Chúng ta phải nhớ rằng ở đây các cái CHỈ SỐ KINH TẾ nó chỉ nằm ở RỦI RO THỊ TRƯỜNG thôi, nó còn có cái RỦI RO cụ thể của TỪNG NGÀNH hoặc là những BIẾN CỐ (xem hình 5)

Chúng ta nên nhớ: CHỈ SỐ KINH TẾ nó chỉ nằm ở góc 1/4 thôi (hình 5) nên chỉ số kinh tế có thể ra rất là tốt nhưng NỀN KINH TẾ rất là xấu => Đây là cái điểm đầu tiên chúng ta cần phải hiểu để tránh cái trường hợp: Sau khi mình hướng dẫn các bạn cách phân tích CPI hay tính GDP cụ thể như thế nào, cuối cùng lại bảo rằng không hiểu vì sao kinh tế tốt mà mã cổ phiếu hoặc ngành cổ phiếu của mình vẫn “fail”, hoặc thị trường vẫn đi xuống.

Đầu tiên chúng ta phải thống nhất với nhau rằng là, trong một cái thế giới mà
– KHÔNG CÓ TIN TỨC MỚI NÀO KHÁC – Tức là không có một cái biến cố nào mới
– KHÔNG CÓ TIN MỚI VỀ NGÀNH – Tức là không có một cái rủi ro riêng biệt với ngành đó xảy ra
– Rồi KHÔNG CÓ THÔNG TIN CỤ THỂ NÀO VỀ MỘT MÃ CHỨNG KHOÁN này
– Và Tất cả thông tin đều minh bạch – KHÔNG CÓ XUNG ĐỘT GIỮ THÔNG TIN VÀ SỐ LIỆU
THÌ CÁC CÁI SỰ KIỆN KINH TẾ MỚI CÓ THỂ THÚC ĐẨY ĐƯỢC THỊ TRƯỜNG.
Như vậy là chúng ta phải hiểu được rằng khi chúng ta phân tích thì cái tỷ lệ xác xuất của nó rất khó mà đạt 100% tại vì như đã nói nó có rất nhiều biến.

Nhưng mà cũng không nên buồn tại vì nếu mà phân tích đúng 100% thì nó không gọi là đầu tư đâu. (99% nhà đầu tư thua lỗ chỉ 1% là chiến thắng, có nghĩa đầu tư nó rất khó)

Như vậy ở bài viết trước, chúng ta đã chia SỰ KIỆN KINH TẾ thành 2 nhóm:
– Một là sự kiện định lượng
– Hai là sự kiện định tính
Xem HÌNH 1.A
Ở đây, các sự kiện định lượng sẽ quan trọng hơn nên tôi sẽ tập trung đi vào SỰ KIỆN ĐỊNH LƯỢNG – tức là những biến kinh tế mang tính đại diện và khách quan như:
– GDP
– Lạm phát
– Quyết sách lãi suất
– Tỷ lệ thất nghiệp…
Còn đối với các sự kiện định tính như:
– Phát biểu của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
– Quan điểm điều hành
– Hay các thông điệp chính sách…
thì chúng ta chủ yếu sẽ xem xu hướng và định hướng của nó thôi.
Như vậy, chúng ta sẽ đi theo trình tự:
SỰ KIỆN KINH TẾ -> SỰ KIỆN ĐỊNH LƯỢNG -> rồi sau đó mới đi sâu vào các CHỈ SỐ KINH TẾ
CHỈ SỐ KINH TẾ:
Chỉ số kinh tế có nghĩa rằng là những cái chỉ số mà qua thống kê mà lại phản ánh một cái xu hướng của nền kinh tế.

CHỈ SỐ BẤT THƯỜNG (HÌNH 4)

Rồi bây giờ tôi sẽ chi sẻ cho mọi ngừoi một cái chỉ số Lip Stick.
Tức là để dự đoán nền kinh tế hoặc là đo sức khoẻ của nền kinh tế người ta sẽ dùng các cái CHỈ SỐ KINH TẾ.

Tức là chúng ta phải hiểu: Nền kinh tế chúng ta như một cái cơ thể và nó có các cái chỉ số kinh tế.

Ở đây chúng ta có chỉ số Lip Stick (Hình 4), đây không phải một chí số tôi lấy bâng quơ mà chỉ số này có trên bloomberg – là hãng cung cấp thông tin rất là uy tín: https://www.bloomberg.com/opinion/articles/2024-08-09/is-beauty-thriving-don-t-count-on-lipstick-index-for-the-next-recession?

Hay https://www.chase.com/personal/investments/learning-and-insights/article/what-is-the-lipstick-index

https://www.tradingview.com/chart/NU/UmdsAQvD-The-Lipstick-Index-and-beauty-stocks-to-invest-in/

https://share.google/sE2XRTT7H36umofd6 (xem ảnh)

Và chỉ số Lip Stick nó chỉ ra rằng là: Doanh số của những món hàng xa xỉ sẽ tăng khi nền kinh tế sụt giảm. Tức là nếu khi nào Son môi (lip stick) mà nó bán chạy thì chứng tỏ nền kinh tế sụt giảm. Tại sao lại như vậy?

Người ta nghiên cứu thông thường phụ nữ rất là nhạy cảm đối với cả tình hình kinh tế, khi nào mà chị e đi mua son thì kinh tế chúng ta sẽ gặp vấn đề.

Hoặc là chúng ta sẽ có một chỉ số nữa người ta gọi là chỉ số BIG MAC nó sẽ đo CPI của tất cả các quốc gia thông qua cái giá của một cái bánh hamberger đang sản xuất và nó sẽ tính ra được rằng là bao nhiêu tiền thì tỷ giá hối đoái nó sẽ chạy theo hướng như vậy.

Ví dụ như ở Việt Nam là 69k ($2,98) một cái hamberger mà ở Mỹ bán $5,81 thì chúng ta sẽ lấy cái giá ở việt nam để quy được một cái hamberger tương ứng với ả đô ở bên kia

Ví dụ như 1 cái hamberger ở Vnlaf 69.000 mà ở mỹ nó là 5,81 đô thì chúng ta chỉ chỉa ra thôi:
1 đô =69/5.81

Hoặc những ai chơi chứng khoán sẽ thấy trên thị trường có một “chỉ số” khá vui, người ta gọi là “chỉ số 5 dòng kẻ” – tức là khi 5 công ty chứng khoán cùng đồng thuận về một xu hướng nào đó thì khả năng cao thị trường lại đi theo hướng ngược lại.
Như vậy chúng ta đặt ra một câu hỏi:
Liệu chúng ta có thể tin vào những chỉ số như thế này hay không? Và liệu chúng ta có thể tin vào những số liệu không được công bố từ các cơ quan chính thức hay không?
Đây chính là vấn đề đầu tiên khi phân tích dữ liệu kinh tế:
Trước khi phân tích đúng hay sai, thì dữ liệu đầu vào phải đủ chuẩn và đủ đáng tin cậy đã. Không phải bất kỳ dữ kiện nào trên thị trường chúng ta cũng có thể mang đi phân tích được.

Rồi, như vậy chúng ta phải thống nhất với nhau rằng khi đi đầu tư thì chúng ta sẽ phải theo dõi các CHỈ SỐ KINH TẾ THÔNG THƯỜNG – tức là những chỉ số đến từ các nguồn dữ liệu uy tín. Thực ra những chỉ số này được chia thành 3 nhóm mà mình cũng đã nói rồi, gồm:
– Chỉ báo dẫn dắt
– Chỉ báo đồng thời
– Chỉ báo trễ
Chỉ báo dẫn dắt là những chỉ số phản ánh kỳ vọng về những gì sắp xảy ra trong tương lai, tức là nó sẽ thay đổi trước khi nền kinh tế thực sự thay đổi. Ví dụ như:
– Chứng khoán
– Giá cổ phiếu
– VN-Index
– Cung tiền…
Chỉ báo đồng thời là những chỉ số phản ánh những gì đang xảy ra ở thời điểm hiện tại. Ví dụ như PMI.
Còn chỉ báo trễ là những chỉ số dùng để xác nhận những gì đã xảy ra rồi. (Vd: GDP, lạm phát)
Cái này thật ra rất dễ hiểu. Chúng ta cứ hình dung nền kinh tế giống như một cơ thể, và chúng ta đo sức khoẻ của cơ thể đó thông qua các chỉ số kinh tế.
Bây giờ nó sẽ có một chu trình như thế này:
Đầu tiên là hắt hơi, sổ mũi – đây gọi là chỉ báo dẫn dắt, vì nó báo hiệu cơ thể sắp có vấn đề.
Sau đó về nhà nằm sốt, người nóng ran – đây là chỉ báo đồng thời, vì nó phản ánh vấn đề đang thực sự xảy ra ở hiện tại.
Cuối cùng, muốn được nghỉ làm thì phải xin giấy xác nhận của bác sĩ rằng mình đã chính thức bị ốm để gửi cho sếp – đó chính là chỉ báo trễ, tức là xác nhận lại một sự việc đã xảy ra trước đó rồi.

Vậy chỉ báo nào là quan trọng nhất?
Nền kinh tế đang bình thường (người đang bình thường tự nhiên giồng mình một cái, hắt hơi sổ mũi) – đó là CHỈ BÁO DẪN DẮT, tức là cơ thể đang báo trước rằng có thể sắp bị bệnh.
Chỉ báo đồng thời: thôi rồi về nhà sốt rồi
Và chỉ báo trễ đó là xác nhận đơn của bác sĩ để bác sĩ cho thuốc mà uống (bác sĩ chính là chính phủ)

Tôi thấy một số chuyên gia phân tích trên thị trường nói là GDP hay là CPI không quan trọng vì nó quá trễ. Thế thì bây giờ mình nói một cái câu chuyện như thế này:
Bây giờ bạn đầu tư cổ phiếu tự nhiên thấy tin về một lãnh đạo bị bắt sau đó thì thấy rằng là trên thị trường bán rât nhiều cổ phiếu đấy và sau đó thì không có một cái thông báo chính thức gì cả chỉ có nói rẳng là đính chính thôi và cuối cùng là một cái thông báo là anh lãnh đạo này đã vi phạm một cái điều gì đó và đã bị bắt.
Thì đâu là chỉ báo trễ và đâu là chỉ báo dẫ dắt?
Chính vì vậy TIN ĐỒN là chỉ báo dẫ dắt, Việc thị trường bán tháo là chỉ báo đồng thời, Thông báo chính thức là chỉ báo trễ. Thực chất cả ba loại chỉ báo đều đang phản ánh cùng một dòng chảy của nền kinh tế, chỉ khác nhau ở việc chúng phản ánh kỳ vọng tương lai, trạng thái hiện tại hay xác nhận những gì đã xảy ra.
Tôi thấy hiện nay nhiều người khi phân tích thường quá coi trọng chỉ báo dẫn dắt. Nhưng mà chỉ báo dẫn dắt có thể dẫn đến một cái sai tại vì đôi khi nó chỉ là một cái tin đồn thôi.
Nên chúng ta phải hiểu trong KINH TẾ thì các cái sự kiện đó không phải là hôm này cái chỉ báo này ra, thì mai có chỉ báo này nó ra, ngày kia nó có cái chỉ báo này nó ra, nó không ở trên dòng thời gian cho bạn như thế đâu mà nó là như thế này (HÌNH6.A tương đương với HÌNH 6.😎
(HÌNH 6.😎 Ở thời điểm T0: Tức là một thời điểm phân tích kinh tế của các bạn. Nó đều có 3 chỉ báo đi ra:
– CHỈ BÁO DẪN DẮT 0
– CHỈ BÁO ĐỒNG THỜI 0
– CHỈ BÁO TRỄ 0
Thì cái CHỈ BÁO DẪ DẮT 0 này bản chất là nó chỉ về tương lai tức là ở tương lai T1 nó sẽ xả ra
Còn cái CHỈ BÁO TRỄ 1 bao giờ nó cũng xác nhận lại những cái CHỈ BÁO ĐỒNG THỜI ở thời điểm cũ (CHỈ BÁO ĐỒNG THỜI 0)
Và như vậy chúng ta sẽ thấy nền kinh tế vận động như một dòng chảy liên tục, nơi mà quá khứ, hiện tại và tương lai luôn tồn tại song song với nhau.
Rồi ở đây tôi lấy ví dụ cho dễ hiểu:
-Chỉ báo dẫn dắt: LÃI SUẤT LIÊN NGÂN HÀNG QUA ĐÊM (ON)
-Chỉ báo trễ: CPI (YoY)
Thông thường chỉ báo dẫn dắt sẽ chạy trước. Ví dụ khi lãi suất liên ngân hàng tăng cao, điều đó cho thấy thanh khoản đang bị siết lại, chi phí vốn tăng lên và sau một khoảng thời gian thì lạm phát (CPI) mới bắt đầu giảm xuống.
Tức là giữa lãi suất và lạm phát luôn tồn tại một độ trễ nhất định:
– Chính sách tiền tệ sẽ tác động trước
– Sau đó nền kinh tế mới phản ứng
– Và cuối cùng CPI mới xác nhận lại những tác động đó bằng số liệu thực tế.

(kỹ hơn:
Ở thời điểm hiện tại T0:
-Chứng khoán đang phản ánh kỳ vọng cho tương lai → đây là chỉ báo dẫn dắt
-PMI hoặc hoạt động sản xuất đang phản ánh nền kinh tế hiện tại → đây là chỉ báo đồng thời
-CPI hoặc tỷ lệ thất nghiệp đang xác nhận những gì đã xảy ra trước đó → đây là chỉ báo trễ
Tức là cả ba loại chỉ báo luôn tồn tại cùng lúc, chỉ khác nhau ở việc:
-một cái nhìn về tương lai
-một cái phản ánh hiện tại
-và một cái xác nhận quá khứ
Rồi bây giờ lấy ví dụ thực tế cho dễ hiểu:
-Chỉ báo dẫn dắt: LÃI SUẤT LIÊN NGÂN HÀNG QUA ĐÊM (ON) – HÌNH B hoặc 8
– https://widata.vn/vi-mo/vn/search?macroTargetID=76 –link 1
– Chỉ báo trễ: CPI (YoY) (vẫn ở link 1 bạn search CPI (YOY) : thì sẽ xuất hiên hai chỉ số trên 1 đồ thị – như HÌNH 8
và xem hình 8 để trực quan.
Giả sử nền kinh tế đang có lạm phát cao.
Lúc này Ngân hàng Nhà nước sẽ bắt đầu siết tiền:
– hút bớt thanh khoản
– làm lãi suất liên ngân hàng tăng lên
Cho nên:
LÃI SUẤT LIÊN NGÂN HÀNG sẽ tăng trước.
Nhưng lúc này CPI chưa giảm ngay, bởi vì nền kinh tế cần thời gian để phản ứng.
Doanh nghiệp vẫn còn vay vốn cũ.
Người dân vẫn còn tiêu dùng.
Tiền vẫn đang lưu thông trong nền kinh tế.
Sau vài tháng:
– tín dụng bắt đầu chậm lại
– nhu cầu tiêu dùng giảm xuống
– dòng tiền yếu đi
thì lúc đó CPI mới bắt đầu giảm.
Cho nên:
– LÃI SUẤT là tín hiệu đi trước
– CPI là tín hiệu xác nhận sau
Đây chính là “độ trễ của chính sách tiền tệ”.
Tức là:
CHÍNH SÁCH sẽ tác động trước -> nền kinh tế phản ứng sau
-> và cuối cùng dữ liệu lạm phát mới xác nhận lại tác động đó.
Cho nên khi phân tích kinh tế hay đầu tư, chúng ta không thể chỉ nhìn mỗi CPI hay chỉ nhìn mỗi lãi suất, mà phải hiểu được:
– cái gì đang dẫn dắt kỳ vọng
– cái gì đang phản ánh hiện tại
– và cái gì đang xác nhận xu hướng đã xảy ra.
Xem hình 8 thấy lãi xuất on và CPI -YOY có xu hướng vận động ngược nhau)
Một ví dụ khác: HÌNH C hoặc 8.A (tương đương nhau thôi)
IIP là chỉ số sản xuất công nghiệp (chúng ta sẽ đi sâu hơn ở phần sau). Đây là một chỉ báo đồng thời, tức là nó thường đi cùng nhịp với tăng trưởng GDP.
Ví dụ:
– IIP tăng mạnh -> hoạt động sản xuất của doanh nghiệp đang tốt lên
– Nhà máy hoạt động nhiều hơn
– Đơn hàng tăng lên
– Công nhân làm việc nhiều hơn
thì sau đó GDP thường cũng sẽ tăng theo.
Cho nên khi nhìn:
– IIP Toàn ngành công nghiệp YoY
và
– GDP thực YoY
Chúng ta sẽ thấy hai chỉ số này thường có xu hướng đi cùng nhau.
Tương tư chúng ta tra trên Widata.vn thì được hình sau: HÌNH 8.A (IIP lên thì GDP cũng đi lên, và ngược lại tức là có xu hướng cùng chiều)
Vậy điều này giúp ích gì cho việc phân tích?
Nó giúp chúng ta hiểu rằng:
Khi phân tích kinh tế, chúng ta không chỉ nhìn vào dữ liệu đã xảy ra như GDP hay CPI, mà còn phải nhìn những chỉ báo đi trước để dự phóng nền kinh tế trong tương lai.
Bây giờ chúng ta quay lại sơ đồ (HÌNH 7.A).
Chỉ báo dẫn dắt luôn có thể dẫn nền kinh tế sang nhiều hướng khác nhau, ví dụ như kịch bản A hoặc B.
Tôi lấy ví dụ về GIÁ DẦU (Giá dầu là một cấu phần của CPI bài sau tôi sẽ viết chi tiết):
Khi giá dầu tăng rất nhanh ở thời điểm T0, thì đây là một CHỈ BÁO DẪN DẮT rất quan trọng, bởi vì dầu là đầu vào lớn của gần như toàn bộ nền kinh tế:
– vận tải cần dầu
– sản xuất cần dầu
– logistics cần dầu
– điện, nhựa, hoá chất… cũng liên quan đến dầu
Cho nên khi giá dầu tăng mạnh:
– chi phí doanh nghiệp tăng lên
– lợi nhuận giảm xuống
– người tiêu dùng cũng phải chi nhiều tiền hơn cho nhiên liệu
Sau một khoảng thời gian, nền kinh tế bắt đầu phản ứng:
– doanh nghiệp giảm đơn hàng
– sản xuất chậm lại
– PMI bắt đầu suy yếu
Đây chính là CHỈ BÁO ĐỒNG THỜI ở thời điểm T1.
Và cuối cùng:
– giá cả hàng hoá tăng lên
– lạm phát tăng
– CPI bắt đầu phản ánh tác động đó
Đây chính là CHỈ BÁO TRỄ.
Như vậy chúng ta phải hiểu rằng:
Ở thời điểm T0, có thể chúng ta chưa có số liệu GDP hay CPI, nhưng nếu hiểu được những biến số dẫn dắt như giá dầu, lãi suất hay cung tiền, thì chúng ta hoàn toàn có thể dự phóng được nền kinh tế sắp đi theo hướng nào.
Chính vì vậy trong phân tích kinh tế và đầu tư, chúng ta không thể chỉ quan tâm một loại chỉ báo riêng lẻ, mà phải kết hợp:
– CHỈ BÁO DẪN DẮT
– CHỈ BÁO ĐỒNG THỜI
– và CHỈ BÁO TRỄ
để nhìn được toàn bộ dòng chảy của nền kinh tế.
sau đây tôi tóm tắt lại sơ đồ cho ac dễ hình dung:
1. IIP và GDP
CHỈ BÁO DẪN DẮT
Đơn hàng, nhu cầu tiêu dùng tăng
->
CHỈ BÁO ĐỒNG THỜI
IIP (YoY) tăng, nhà máy sản xuất mạnh hơn
->
CHỈ BÁO TRỄ
GDP thực (YoY) tăng
2. LÃI SUẤT LIÊN NGÂN HÀNG ON và CPI
CHỈ BÁO DẪN DẮT
Lãi suất liên ngân hàng ON tăng
->
CHỈ BÁO ĐỒNG THỜI
Thanh khoản giảm, tín dụng chậm lại
->
CHỈ BÁO TRỄ
CPI (YoY) giảm

3. GIÁ DẦU và nền kinh tế
CHỈ BÁO DẪN DẮT
Giá dầu tăng mạnh
->
CHỈ BÁO ĐỒNG THỜI
PMI giảm, doanh nghiệp giảm đơn hàng vì chi phí cao
->
CHỈ BÁO TRỄ
GDP giảm tốc hoặc CPI tăng

Rồi chúng ta quay lại hình 7.A
Khi CHỈ BÁO TRỄ 2 xuất hiện thì lúc đó nó sẽ bắt đầu xác nhận rằng xu hướng của nền kinh tế đã thực sự xảy ra.
Ví dụ:
– GDP giảm
– CPI tăng
thì lúc này Chính phủ và Ngân hàng Trung ương sẽ bắt đầu phản ứng bằng các chính sách:
– giảm lãi suất
– bơm tiền
– kích thích kinh tế
– hoặc ngược lại là thắt chặt nếu lạm phát quá cao.
Và ngay khi CHÍNH SÁCH thay đổi, thị trường sẽ phản ứng trước tiên. Chính vì vậy nền kinh tế sẽ tạo thành một vòng lặp liên tục như HÌNH 7.A:
– CHỈ BÁO DẪN DẮT -> dự báo xu hướng tương lai
– CHỈ BÁO ĐỒNG THỜI -> phản ánh xu hướng đang diễn ra
– CHỈ BÁO TRỄ -> xác nhận xu hướng đã xảy ra
– Sau đó CHÍNH SÁCH phản ứng lại
– Và CHÍNH SÁCH mới lại tiếp tục tạo ra các chỉ báo dẫn dắt cho chu kỳ tiếp theo.
Nó giống như việc chúng ta phân tích “trend” trong đầu tư vậy, nhưng ở đây là trend của cả nền kinh tế chứ không phải trend của riêng một mã cổ phiếu.

BÂY GIỜ CHÚNG TA HÃY NHÌN NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM:

Chúng ta sẽ không nói các chỉ số bất thường mà chúng ta chỉ nói đến chỉ số thông thường thôi.
Chúng ta sẽ có các cái chỉ số dẫn dắt, chỉ số đồng thời và chỉ số trễ. Và chúng ta sẽ nhìn thấy ở đây (HÌNH 9) có một sự liên hồi.
Thay đổi trước khi nền kinh tế thay đổi có
– ( VN-INDEX) chúng ta phải xem VN index phản ứng như thế nào
– Lãi xuất liên ngân hàng
– Cung tiền M2
– Và PMI, FED, Tỷ giá và lãi xuất
– Tất cả các loại gía đều là chỉ báo dẫn dắt hết. (Tất cả các loại giá hàng hóa – commodity prices)
– Lãi xuất trái phiếu chính phủ

Rồi, CHỈ BÁO ĐỒNG THỜI: đi cùng xu hướng, thay đổi khi nền kinh tế thay đổi:
– IIP (Chỉ số sản xuất công nghiệp)
Nhóm này không đi trước quá nhiều, cũng không đi sau quá xa, mà phản ánh đúng “hiện trạng” của nền kinh tế tại thời điểm đó.

Ở đây mọi người sẽ thấy rằng kể cả các chuyên gia kinh tế khi mà xếp các cái chỉ số thì mỗi người xếp một cái loại khác nhau, khi tôi nghiên cứu thì có người xếp GDP là chỉ báo dẫn dắt, có người lại xếp CPI là chỉ báo dẫn dắt và mỗi người đều có cái lý của mình. Nó giống như khi mọi người đầu tư hoặc là tự doanh các bạn sẽ có cái Trading Systems. Mỗi người sẽ có cái bảng riêng, và ở đây tôi sẽ rất muốn mọi người xây cho tôi một cái bảng mà mỗi cái tài sản đầu tư của mình bạn quan trọng cái chỉ báo dẫn dắt gì. Tại vì tôi biết bạn nào mà quan tâm đến BĐS thì cái hệ thống chỉ báo của bạn khác, chỉ báo đồng thời của các bạn khác và cái chỉ báo trễ của các bạn khác. Với ngừoi đầu tư cổ phiếu thì họ sẽ quan tâm đến những chỉ số khác, những chỉ số màm họ xem hàng ngày: Những người quản lý quỹ ví dụ như Vnacapital họ sẽ quan tâm đến LÃI XUẤT LIÊN NGÂN HÀNG nhất – tại sao? vì đây sẽ quyết định cho cái chi phí vốn cho hê thống mergin trading)
Cuối cùng là chỉ báo trễ, tức là những chỉ số phản ánh kết quả sau cùng của cả một chu kỳ kinh tế:
– GDP
– CPI
Những chỉ số này chỉ xuất hiện khi mọi thứ trong nền kinh tế đã diễn ra rồi. Từ đó CHÍNH PHỦ

Ví dụ: GIÁ XĂNG & CPI
Để các bạn dễ hình dung, giá xăng thực chất là một cấu phần quan trọng trong CPI giao thông, mà CPI giao thông lại có tác động đáng kể đến CPI tổng thể. Vì vậy, khi phân tích vĩ mô, tôi lấy giá xăng làm ví dụ trung tâm để các bạn thấy rõ cơ chế truyền dẫn của lạm phát (ở bài tiếp theo chúng ta sẽ bóc tách sâu hơn CPI là gì và cấu trúc của nó).
Chúng ta quay lại năm 2022 – một giai đoạn rất điển hình:
2022:
Giá dầu thế giới tăng
--> Giá xăng trong nước tăng
--> CPI giao thông tăng
--> CPI tổng thể tăng
Khi đó, vai trò của Chính phủ là gì?
CHÍNH PHỦ --> GIẢM THUẾ / HỖ TRỢ GIÁ
Nói cách khác, khi giá năng lượng tăng mạnh từ bên ngoài, Chính phủ thường phải can thiệp thông qua:
– Chính sách tài khóa (giảm thuế, trợ giá)
– Hoặc các biện pháp bình ổn giá
Mục tiêu là làm giảm tốc độ lan truyền của cú sốc giá dầu sang lạm phát trong nước.
Điểm quan trọng ở đây là:
Chính phủ không phản ứng với “giá xăng” một cách đơn lẻ, mà phản ứng với chuỗi tác động vĩ mô phía sau nó:
Giá dầu ↑ -> Lạm phát kỳ vọng ↑ -> CPI ↑ -> Ổn định kinh tế bị ảnh hưởng
Vì vậy, khi thấy giá dầu tăng, Chính phủ sẽ điều chỉnh ngay CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA để giảm áp lực lên CPI.

Phân tích vĩ mô có một đặc điểm rất quan trọng:
nó thường bị “nhiễu” nếu nhìn bề mặt
Do đó, chúng ta cần một sơ đồ tư duy để không bị lạc trong hàng loạt biến số.
Khi nhìn vào biểu đồ, các bạn sẽ cần trả lời một câu hỏi cốt lõi:
Biến số này có tác động đến LÃI SUẤT hay không?
Toàn bộ hệ thống vĩ mô, nếu tóm gọn lại, sẽ xoay quanh CHỈ SỐ KINH TẾ và cơ chế truyền dẫn giữa các chỉ số.
Ví dụ đơn giản:
Giá xăng tăng
--> CPI tăng
--> Chính phủ phản ứng bằng chính sách tài khóa
--> Và sau đó có thể lan sang chính sách tiền tệ / lãi suất
Vì vậy, chúng ta cần một hệ thống theo dõi vĩ mô rõ ràng, có cấu trúc, vì số lượng biến số rất nhiều. Nếu không bóc tách đủ sâu, chúng ta sẽ chỉ nhìn thấy “hiện tượng”, chứ không thấy được cơ chế vận hành phía sau của nền kinh tế.
Điều quan trọng nhất là luôn giữ được mô hình tư duy:
Biến số -> Truyền dẫn -> Chính sách phản ứng -> Tác động ngược lại thị trường
Phân tích vĩ mô nó có một cái đặc điểm là nó hay bị lạc, mỗi khi bị lạc chúng ta nhìn vào biểu đồ sau: HÌNH 9.A

Các bạn sẽ hiểu từng cái yêu tố nó sẽ như thế nào, quan trọng nhất nó có ảnh hưởng tới lãi xuất hay không.
Chúng ta hãy nhớ toàn bộ cái vấn đề nó sẽ nằm ở cái CHỈ SỐ KINH TẾ, chúng ta đã biết rồi: Giá xăng tăng một cái là CHÍNH PHỦ phải tác động đến chính sách tài khoá ngay. Chúng ta cần phải có một cái hệ thống để chúng ta theo dõi tại vì các biến số vĩ mô nó khá nhiều, nhưng nếu chúng ta không bóc tách thật là chi tiết thì chúng ta không bao giờ nó có một cái phân tích nó đủ sâu sắc và đặc biệt mình vẫn muốn các bạn nhớ cái mô hình.
Đó là CHỈ BÁO DẪN DẮT và đâu là chỉ báo dẫn dắt ( GIÁ XĂNG DẦU, GIÁ THÉP, GIÁ LỢN…) Tại vì chúng ta phải hiểu CHỈ SỐ DẪN DẮT này mà nó thay đổi thì chúng ta chắc chắn rằng là có GDP và CPI nó thay đổi và chắc chắn và đâu đó nó sẽ quay lại các chỉ báo dẫn dắt naỳ nó sẽ đi thành một vòng tròn (HÌNH 9)
Các bạn mà PHÂN TÍCH ĐƯỢC ĐƯỜNG ĐI CỦA LÃI XUẤT THÌ 90% các bạn thắng được trong cái môi trường đầu tư, tôi có thể chia sẻ rất là thẳng thắn, đấy là góc nhìn của tôi.
———-

Rồi mình sẽ nói lại sơ đồ HÌNH 9.A môt chút trước khi kết thúc bài viết này, bài viết sau tôi sẽ Phân tích bóc tách CPI và GPD từ đó dự phóng nền kinh tế
Trong điều hành kinh tế vĩ mô, mục tiêu cốt lõi của chính phủ thường xoay quanh hai biến số trung tâm: tăng trưởng GDP và kiểm soát lạm phát. GDP kế hoạch phản ánh kỳ vọng về tốc độ mở rộng của nền kinh tế, trong khi lạm phát mục tiêu thể hiện ngưỡng ổn định giá cả mà nhà điều hành mong muốn duy trì để bảo vệ sức mua và ổn định hệ thống tài chính.
Khi nền kinh tế tăng trưởng chậm hơn mục tiêu hoặc đối mặt với nguy cơ suy thoái, chính phủ thường sử dụng chính sách tài khóa theo hướng mở rộng. Điều này đồng nghĩa với việc gia tăng chi tiêu công thông qua đầu tư hạ tầng, hỗ trợ doanh nghiệp, kích cầu tiêu dùng hoặc mở rộng các chương trình an sinh xã hội. Trong nhiều trường hợp, tốc độ tăng chi ngân sách vượt quá khả năng thu ngân sách, dẫn tới tình trạng thâm hụt ngân sách.
Để bù đắp phần thiếu hụt này, chính phủ phải huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu chính phủ. Khi khối lượng trái phiếu phát hành tăng lên, nhu cầu huy động vốn của khu vực công gia tăng đáng kể. Điều này tác động trực tiếp đến mặt bằng lãi suất trên thị trường tài chính (Từ đó ảnh hưởng đến các lớp tài sản VÀNG, CHỨNG KHOÁN, BĐS… ). Nếu lượng vốn trong hệ thống không đủ dồi dào, chính phủ buộc phải chấp nhận mức lợi suất trái phiếu cao hơn nhằm thu hút nhà đầu tư, từ đó đẩy mặt bằng lãi suất đi lên.
Ngược lại, khi nền kinh tế tăng trưởng nóng và áp lực lạm phát vượt khỏi mục tiêu, chính phủ có xu hướng thắt chặt tài khóa bằng cách kiểm soát chi tiêu công hoặc giảm thâm hụt ngân sách. Khi nhu cầu vay nợ của chính phủ giảm xuống, áp lực phát hành trái phiếu cũng giảm theo, tạo điều kiện để mặt bằng lãi suất ổn định hoặc hạ nhiệt.
Mối liên hệ giữa chính sách tài khóa, trái phiếu chính phủ và lãi suất thực chất phản ánh sự cạnh tranh nguồn vốn trong nền kinh tế. Chính phủ càng vay nhiều để tài trợ thâm hụt, áp lực lên lãi suất càng lớn. Trong khi đó, lãi suất lại là biến số trung tâm ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản, vàng và cả tỷ giá.
Ở góc độ điều hành, bài toán khó nhất của chính phủ không phải chỉ là thúc đẩy tăng trưởng, mà là cân bằng giữa tăng trưởng GDP và ổn định lạm phát. Nếu kích thích quá mạnh bằng chi tiêu tài khóa, nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn nhưng đổi lại là áp lực lạm phát và lãi suất cao hơn trong tương lai. Ngược lại, nếu thắt chặt quá mức để kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế có thể suy yếu, kéo theo thất nghiệp gia tăng và suy giảm nhu cầu tiêu dùng.

Do đó, toàn bộ chuỗi vận động từ GDP kế hoạch -> chính sách tài khóa -> thâm hụt ngân sách -> phát hành trái phiếu -> lãi suất chính là cơ chế truyền dẫn quan trọng phản ánh cách chính phủ can thiệp vào nền kinh tế vĩ mô và ảnh hưởng tới dòng tiền trên thị trường tài chính.
ngắn hơn
Trong kinh tế vĩ mô, chính phủ luôn phải cân bằng giữa hai mục tiêu lớn: tăng trưởng GDP và kiểm soát lạm phát. Khi kinh tế yếu, chính phủ thường mở rộng chính sách tài khóa bằng cách tăng chi ngân sách để kích thích tăng trưởng. Nếu chi nhiều hơn thu, ngân sách sẽ bị thâm hụt.
Để bù đắp thâm hụt, chính phủ phát hành trái phiếu nhằm huy động vốn. Khi lượng trái phiếu phát hành tăng, nhu cầu vốn của chính phủ tăng theo, khiến lợi suất trái phiếu và mặt bằng lãi suất có xu hướng đi lên.
Ngược lại, khi lạm phát cao, chính phủ sẽ giảm chi tiêu và kiểm soát thâm hụt để hạ áp lực lãi suất và ổn định nền kinh tế. Vì vậy, chuỗi vận động từ GDP kế hoạch -> chính sách tài khóa
-> thâm hụt ngân sách -> trái phiếu chính phủ -> lãi suất chính là cơ chế cốt lõi tác động đến toàn bộ thị trường tài chính.
đây là chính sách tài khoá viết thêm chính sách tiền tệ
Trong kinh tế vĩ mô, chính phủ tác động đến nền kinh tế thông qua hai công cụ lớn: chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.
Chính sách tài khóa liên quan đến thu – chi ngân sách nhà nước. Khi kinh tế suy yếu, chính phủ tăng chi tiêu công để kích thích tăng trưởng GDP. Nếu chi vượt thu sẽ tạo ra thâm hụt ngân sách, buộc chính phủ phải phát hành trái phiếu để huy động vốn. Lượng trái phiếu tăng khiến lợi suất và mặt bằng lãi suất có xu hướng tăng theo.
Trong khi đó, chính sách tiền tệ do ngân hàng trung ương điều hành thông qua lãi suất, cung tiền và tín dụng. Khi lạm phát cao, ngân hàng trung ương thường nâng lãi suất và siết cung tiền để giảm cầu trong nền kinh tế. Ngược lại, khi tăng trưởng chậm, nhà điều hành sẽ hạ lãi suất và bơm thanh khoản nhằm kích thích tiêu dùng, đầu tư và tín dụng.
Vì vậy, chính sách tài khóa tác động từ phía chi tiêu của chính phủ, còn chính sách tiền tệ tác động từ dòng tiền và chi phí vốn trong nền kinh tế. Cả hai phối hợp với nhau để kiểm soát lạm phát, ổn định GDP và định hướng chu kỳ kinh tế.

📌 Nguồn Tham Khảo & Bản Quyền Nội Dung

Bài viết được trích xuất và lưu trữ từ trang chính thức CMB Investing – Cố Vấn Đầu Tư VPS. Xem bài viết gốc trên Facebook ↗

CMB Investing ⸺ Chia Sẻ Giá Trị Thực

Mỗi ấn phẩm Tạp Chí CMB được chắt lọc từ những chiêm nghiệm sống và phân tích đầu tư thực chiến, nhằm đồng hành cùng các anh chị trên con đường tự do tài chính.

0%
Giọng đọc Chị Google
Chị Google (Mặc định) • Đoạn 1/--
Bản Tin Thứ Bảy Hàng Tuần

Nhận Tạp Chí CMB Trực Tiếp Qua Hộp Thư

Đăng ký hoàn toàn miễn phí để không bỏ lỡ những bài viết chuyên sâu vào mỗi cuối tuần.

Miễn phí • Không spam • Hủy bất cứ lúc nào

Trang Chủ Podcast Khóa Học Thư Viện Học Viên