SERIES ĐỌC VỊ VĨ MÔ TRONG PHÂN TÍCH – VÀNG – CHỨNG KHOÁN – BĐS
Phần 2: Chính sách tiền tệ - tài khoá và kết hợp tiền tệ…
P/s: nếu a/c muốn trao đổi thêm 0962721995 (Zalo)
Toàn bộ phần tổng quan này đã viết bài này là bài tổng hợp để chúng ta có thể đi tiếp chuyên sâu vào phần 2) – Nếu không hiểu chúng ta đọc lại các bài trước rất cụ thể.
Tôi có một mảnh đất khá là rộng. Trên mảnh đất đó có tài nguyên, có con người, và từ đây tôi bắt đầu hình dung ra một nền kinh tế thu nhỏ trong một sơ đồ. Mọi thứ trong kinh tế thực chất xoay quanh việc: làm sao sử dụng nguồn lực hữu hạn (đất, lao động, vốn) để tạo ra nhiều giá trị nhất….
Đầu tiên chúng ta phải hiểu KINH TẾ VI MÔ là gì và KINH TẾ VĨ MÔ nghiên cứu cái gì. (Hình 1)
Bất kỳ một nền kinh tế nào cũng có 3 thành phần chính:
Các thành phần của nền kinh tế đó là
– HỘ GIA ĐÌNH
– CÁC CÁI DOANH NGHIỆP
– Và CHÍNH PHỦ để quản trị cái mối quan hệ giữa các thành viên ở trong Xã Hội [ HỘ GIA ĐÌNH, DOANH NGHIỆP]
Chúng ta đã biết thì HỘ GIA ĐÌNH thì sẽ ĐI LÀM -> Vào THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG, và ở đây thì chúng ta sẽ có SỨC LAO ĐỘNG để cung cấp cho các DOANH NGHIỆP, và các DOANH NGHIÊP thì sẽ SẢN SUẤT ra HÀNG HOÁ và HỘ GIA ĐÌNH cũng sẽ tương tự như vậy, họ cũng sẽ TIÊU DÙNG – HÀNG HOÁ
Thế thì khi nền kinh tế càng ngày càng phát triển, phần thặng dư của HỘ GIA ĐÌNH bắt đầu sinh ra NHU CẦU ĐẦU TƯ.
Và từ đây, một định chế TÀI CHÍNH cực kỳ quan trọng bắt đầu ra đời. Khoảng từ thế kỷ 14, đặc biệt là tại các thành bang thương mại như Venice, Florence hay Genoa, ngành NGÂN HÀNG bắt đầu hình thành.
Lúc này, thương mại quốc tế phát triển rất mạnh, đặc biệt là các tuyến giao thương giữa Châu Âu và phương Đông. Các thương nhân cần rất nhiều vốn để tài trợ cho tàu thuyền, hàng hoá và các chuyến hải hành kéo dài nhiều tháng.
Vấn đề lúc đó là:
-HỘ GIA ĐÌNH có tiền dư nhưng không biết tự kinh doanh.
-Trong khi THƯƠNG NHÂN lại có cơ hội kinh doanh nhưng thiếu vốn.
Và NGÂN HÀNG ra đời để giải quyết chính bài toán này.
Cơ chế lúc đó rất đơn giản:
-HỘ GIA ĐÌNH gửi tiền vào NGÂN HÀNG để bảo quản và nhận lãi.
-NGÂN HÀNG tập hợp nguồn vốn đó rồi cho các THƯƠNG NHÂN vay để đi buôn bán.
-Khi thương nhân kinh doanh có lợi nhuận, họ sẽ trả lãi lại cho ngân hàng, và ngân hàng tiếp tục chia sẻ một phần lợi ích cho người gửi tiền.
Đây chính là nền móng đầu tiên của THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ.
Sau đó, tới khoảng thế kỷ 16-17, khi mô hình công ty cổ phần bắt đầu xuất hiện mạnh hơn, đặc biệt tại Hà Lan và Anh, thì HỘ GIA ĐÌNH không chỉ gửi tiền qua ngân hàng nữa mà bắt đầu có thể đầu tư trực tiếp vào các CÔNG TY.
Ví dụ nổi tiếng nhất là Dutch East India Company – một trong những công ty cổ phần đầu tiên trên thế giới. Người dân có thể góp vốn trực tiếp để cùng chia lợi nhuận từ hoạt động thương mại toàn cầu.
Và từ đó, THỊ TRƯỜNG VỐN bắt đầu hình thành.
Điểm khác biệt cốt lõi giữa THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ và THỊ TRƯỜNG VỐN nằm ở:
-CẤU TRÚC KỲ HẠN
-và mức độ BẤT ĐỐI XỨNG THÔNG TIN.
-THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ thường là vốn ngắn hạn, mức độ an toàn cao hơn vì có ngân hàng đứng giữa kiểm soát rủi ro.
-Còn THỊ TRƯỜNG VỐN là đầu tư dài hạn, lợi nhuận kỳ vọng cao hơn nhưng rủi ro cũng lớn hơn vì nhà đầu tư phải trực tiếp đối mặt với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
BẤT ĐỐI XỨNG THÔNG TIN thì nó rất đơn giản thôi. Có nghĩa là nếu như tôi không biết cho ai vay, và một anh nào đó đến vay tiền của tôi, thì tôi sẽ phải mất rất nhiều thời gian để tìm hiểu toàn bộ thông tin về anh ta: anh ta làm gì, kinh doanh ra sao, có khả năng trả nợ hay không. Và thôi, cách đơn giản nhất là tôi giao việc đó cho một đơn vị trung gian xử lý, đó chính là NGÂN HÀNG.
Còn nếu như các thông tin đã minh bạch hơn, ví dụ tôi có thể đọc được các bản CÁO BẠCH của doanh nghiệp, hiểu được doanh nghiệp đó đang làm gì, lợi nhuận ra sao, dòng tiền thế nào, thì khi đó tôi hoàn toàn có thể đầu tư trực tiếp vào doanh nghiệp đó thông qua THỊ TRƯỜNG VỐN.
Thị trường vốn là một cấu phần cực kỳ quan trọng của NỀN KINH TẾ và nó giải quyết vấn đề KỲ HẠN.
Bởi vì thông thường, ở THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ, khi chúng ta gửi tiền vào NGÂN HÀNG thì phần lớn sẽ là các khoản ngắn hạn, thường dưới 1 năm. Trong khi đó, doanh nghiệp lại cần vốn trung và dài hạn để xây nhà máy, mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ… và đây chính là vai trò của THỊ TRƯỜNG VỐN.
Và như vậy chúng ta sẽ nhìn thấy rằng THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH nằm ở “TRÁI TIM” của NỀN KINH TẾ.
Bởi vì cả ba chủ thể lớn đều tham gia vào thị trường tài chính:
-HỘ GIA ĐÌNH
-DOANH NGHIỆP
-và CHÍNH PHỦ
CHÍNH PHỦ cũng tham gia vào THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH để phát hành trái phiếu chính phủ, thu thuế từ HỘ GIA ĐÌNH và DOANH NGHIỆP nhằm tạo ra môi trường ổn định cho tăng trưởng kinh tế cũng như duy trì an ninh quốc gia.
Và chính vì vậy, sự phát triển của THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH luôn là một đặc trưng của các nền kinh tế phát triển.
Ở Việt Nam, chúng ta cũng nhìn thấy điều đó rất rõ:
-Thị trường NGÂN HÀNG bắt đầu phát triển mạnh từ khoảng những năm 2000 tới nay.
-Thị trường CỔ PHIẾU thì khoảng 10-15 năm gần đây phát triển rất nhanh.
-Thị trường TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ phát triển mạnh khoảng hơn 8 năm trở lại đây.
-Còn TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP thì khoảng 5 năm gần đây bắt đầu bùng nổ.
Và khi một hệ thống TÀI CHÍNH phát triển, nó sẽ giúp cho dòng vốn trong xã hội được luân chuyển hiệu quả:
từ HỘ GIA ĐÌNH -> DOANH NGHIỆP
từ CHÍNH PHỦ -> nền kinh tế
và ngược lại.
Khi dòng vốn được lưu chuyển hiệu quả thì điều quan trọng nhất của nền kinh tế sẽ được cải thiện, đó là NĂNG SUẤT.
Mà khi NĂNG SUẤT được nâng cao, nền kinh tế sẽ sản xuất ra nhiều hàng hoá hơn, từ đó thúc đẩy THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ cũng như các hoạt động XUẤT – NHẬP KHẨU.
(Hoặc có thể diễn giải như sau:
Và ở đây, chúng ta sẽ nhìn thấy vai trò cốt lõi của một hệ thống tài chính phát triển: đó là tối ưu hóa quá trình phân bổ vốn trong toàn bộ nền kinh tế.
Nói cách khác, hệ thống tài chính chính là cơ chế dẫn truyền nguồn lực từ khu vực có thặng dư vốn – chủ yếu là hộ gia đình và khu vực tiết kiệm – đến khu vực có nhu cầu sử dụng vốn hiệu quả hơn như doanh nghiệp, thị trường đầu tư và cả Chính phủ thông qua các công cụ tài khóa và trái phiếu.
Khi dòng vốn được lưu chuyển thông suốt với chi phí thấp hơn và hiệu quả cao hơn, nền kinh tế sẽ đạt được điều quan trọng nhất: sự gia tăng năng suất.
Và về bản chất, năng suất mới là nền tảng thực sự quyết định mức độ giàu có của một quốc gia.
Khi năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn được nâng cao, nền kinh tế có thể tạo ra nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn trên cùng một đơn vị nguồn lực. Điều đó thúc đẩy mở rộng sản xuất, gia tăng quy mô thị trường hàng hóa, đồng thời kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động thương mại, xuất khẩu và nhập khẩu.
Cuối cùng, toàn bộ quá trình này tạo thành một vòng tuần hoàn tích cực giữa tài chính, đầu tư, năng suất và tăng trưởng kinh tế – vốn là nền móng của mọi quốc gia công nghiệp phát triển trong lịch sử hiện đại)
Ví dụ tại Việt Nam, chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ quá trình mở rộng của nền kinh tế thông qua thương mại quốc tế.
-Năm 2002, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam mới chỉ vào khoảng hơn 36 tỷ USD.
-Nhưng đến năm 2025, con số này đã tiến sát mốc 900 tỷ USD, tức tăng khoảng 25 lần chỉ sau hơn hai thập kỷ.
Đó là một trong những tốc độ mở rộng thương mại nhanh nhất thế giới.
Tất nhiên, nhiều người sẽ lập luận rằng phần lớn kim ngạch xuất khẩu hiện nay đến từ khu vực FDI. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn dưới góc độ kinh tế học phát triển, thì vấn đề quan trọng không nằm ở việc “ai xuất khẩu”, mà nằm ở việc nền kinh tế nội địa đã hấp thụ được những gì từ dòng vốn và chuỗi giá trị toàn cầu đó.
Bởi trong thực tế:
-doanh nghiệp FDI tạo ra hàng triệu việc làm,
-hình thành và mở rộng thị trường lao động hiện đại,
-đóng góp lớn vào nguồn thu ngân sách nhà nước,
-chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản trị và tiêu chuẩn sản xuất,
-đồng thời kéo theo sự phát triển của hàng loạt doanh nghiệp nội địa tham gia vào chuỗi cung ứng.
Và đó chính là cách một nền kinh tế công nghiệp hóa được hình thành: thông qua quá trình tích lũy vốn, mở rộng sản xuất, nâng cao năng suất và hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Hiện nay, mỗi năm nền kinh tế Việt Nam tạo ra khoảng hơn 400 tỷ USD giá trị hàng hóa và dịch vụ. Và toàn bộ giá trị đó chính là GDP – tổng sản phẩm quốc nội.
Khi một nền kinh tế tăng trưởng đủ lớn, nhà đầu tư quốc tế sẽ không chỉ tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu nữa, mà họ bắt đầu dịch chuyển vốn vào sâu hơn trong cấu trúc nền kinh tế:
– đầu tư trực tiếp thông qua FDI,
– đầu tư vào thị trường tài chính,
– đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu và các loại tài sản tài chính khác,
• thậm chí tham gia vào thị trường tín dụng, bất động sản và hạ tầng.
Và từ thời điểm đó, chúng ta bắt đầu bước vào một khái niệm cực kỳ quan trọng của kinh tế vĩ mô và tài chính quốc tế, đó là BOP – Balance of Payments, tức Cán cân thanh toán.
Bởi khi dòng hàng hóa, dịch vụ và dòng vốn quốc tế bắt đầu đi vào một quốc gia với quy mô lớn, nền kinh tế bắt buộc phải có một hệ thống ghi nhận toàn bộ các dòng tiền ra – vào đó. Và hệ thống đó chính là cán cân thanh toán quốc tế.
Rồi tiếp theo, chúng ta sẽ nhìn thấy rằng kinh tế học vi mô chủ yếu nghiên cứu hành vi của hai chủ thể quan trọng nhất trong nền kinh tế, đó là DOANH NGHIỆP và HỘ GIA ĐÌNH.
Tuy nhiên, sau cuộc Đại khủng hoảng năm 1929, thế giới bắt đầu nhận ra rằng thị trường không phải lúc nào cũng có khả năng tự điều tiết hoàn hảo. Và từ đó, vai trò của CHÍNH PHỦ trong việc can thiệp và điều tiết nền kinh tế trở nên vô cùng quan trọng.
Bởi Chính phủ không chỉ xử lý các vấn đề ngắn hạn của chu kỳ kinh tế, mà còn theo đuổi những mục tiêu chiến lược mang tính dài hạn như:
-xây dựng cơ sở hạ tầng,
– đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D),
– phát triển giáo dục và chất lượng nguồn nhân lực,
– và đặc biệt là xây dựng một hệ thống tài chính hiệu quả và ổn định.
Đây là điều cực kỳ quan trọng.
Bởi nếu nhìn vào cấu trúc tài sản của xã hội hiện đại, chúng ta sẽ thấy phần lớn tài sản không còn chỉ nằm ở bất động sản hay tài sản vật chất nữa, mà ngày càng dịch chuyển sang các tài sản tài chính như:
– tiền gửi ngân hàng,
– cổ phiếu,
– trái phiếu,
– quỹ đầu tư,
– bảo hiểm,
– và toàn bộ hệ thống thị trường vốn.
Nói cách khác, hệ thống tài chính ngày nay chính là nơi lưu giữ và phân bổ phần lớn của cải của xã hội.
Và khi nghiên cứu một nền kinh tế, chúng ta sẽ thấy luôn tồn tại hai nhóm yếu tố:
– các yếu tố mang tính ĐỊNH TÍNH,
– và các yếu tố mang tính ĐỊNH LƯỢNG.
Yếu tố định tính có thể đến từ:
– phát biểu của nguyên thủ quốc gia,
– thống đốc ngân hàng trung ương,
– bộ trưởng tài chính,
– hoặc các định hướng chính sách lớn của Chính phủ.
Trong khi đó, các yếu tố định lượng sẽ được phản ánh thông qua những chỉ báo kinh tế vĩ mô cụ thể.
Và trong toàn bộ hệ thống chỉ báo kinh tế, có hai biến số quan trọng nhất mà gần như mọi nhà đầu tư chuyên nghiệp trên thế giới đều phải theo dõi, đó là:
– GDP – đại diện cho tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế,
– và LẠM PHÁT – đại diện cho mức độ ổn định của giá trị đồng tiền.
Từ đây chúng ta sẽ nhìn thấy mục tiêu điều hành của Chính phủ luôn bao gồm hai lớp:
– mục tiêu DÀI HẠN,
– và mục tiêu NGẮN HẠN.
Trong ngắn hạn, Chính phủ và Ngân hàng Trung ương sẽ sử dụng hai công cụ quan trọng nhất để tác động đến nền kinh tế:
– CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ,
– và CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA.
Mục tiêu cuối cùng là tác động đến TỔNG CẦU (Aggregate Demand) nhằm:
– thúc đẩy tăng trưởng GDP khi nền kinh tế suy yếu,
– hoặc kiểm soát lạm phát khi nền kinh tế tăng trưởng quá nóng.
Trong đó:
– chính sách tiền tệ chủ yếu tác động thông qua lãi suất, tín dụng và tỷ giá,
– còn chính sách tài khóa tác động thông qua chi tiêu công, đầu tư công và thuế.
Và toàn bộ những yếu tố đó cuối cùng sẽ hội tụ vào một biến số cực kỳ quan trọng đối với nhà đầu tư: LÃI SUẤT.
Nhưng ở đây cần hiểu rõ: đó không chỉ là lãi suất thông thường, mà trước hết là LÃI SUẤT ĐIỀU HÀNH của Ngân hàng Trung ương.
Bởi lãi suất điều hành sẽ dẫn truyền sang:
– lãi suất huy động,
– lãi suất cho vay,
– chi phí vốn của doanh nghiệp,
– dòng tiền tín dụng trong nền kinh tế,
– và cuối cùng là định giá của toàn bộ các lớp tài sản tài chính.
Chính vì vậy, mỗi khi lãi suất thay đổi, gần như tất cả các loại tài sản đầu tư đều bị tác động:
– tiền gửi ngân hàng,
– vàng,
– bất động sản,
– chứng khoán,
– trái phiếu,
– thậm chí cả tỷ giá và dòng vốn quốc tế.
Và đó cũng chính là lý do vì sao trong đầu tư vĩ mô, hiểu được chu kỳ lãi suất gần như là hiểu được “hệ thần kinh trung ương” của toàn bộ thị trường tài chính.
Và chúng ta cũng đã tìm hiểu rằng khi chúng ta đi đầu tư thì lợi nhuận của chúng ta về bản chất sẽ gồm hai phần, đó là lợi tức phi rủi ro và phần bù rủi ro. Có nghĩa là nếu chúng ta chấp nhận rủi ro càng lớn thì chúng ta sẽ yêu cầu một mức lợi nhuận kỳ vọng càng cao để bù đắp cho phần bất định đó. Và chính từ đây chúng ta sẽ có một cái “bản khung tư duy” để hiểu tại sao nhà đầu tư bắt buộc phải quan tâm đến các yếu tố vĩ mô.
Bởi trong đầu tư thì chúng ta sẽ có hai loại rủi ro. Một là RỦI RO THỊ TRƯỜNG và hai là RỦI RO CỤ THỂ. Rủi ro cụ thể có nghĩa là rủi ro của từng ngành riêng biệt hoặc từng công ty riêng biệt, ví dụ như rủi ro quản trị doanh nghiệp, rủi ro mô hình kinh doanh, rủi ro ngành nghề hoặc các vấn đề nội tại của từng công ty. Phần này không nằm trong phạm vi kiến thức ở đây, tôi sẽ có những bài viết riêng về phân tích doanh nghiệp và phân tích ngành sau.
Thế còn rủi ro thị trường thì nó có một đặc tính vô cùng quan trọng, đó là KHÔNG THỂ ĐA DẠNG HÓA. Có nghĩa là dù chúng ta mua 5 cổ phiếu, 10 cổ phiếu hay thậm chí toàn bộ VN30 thì khi rủi ro thị trường xảy ra gần như tất cả các cổ phiếu đều sẽ bị ảnh hưởng. Đây cũng là lý do rất nhiều người thắc mắc rằng: “Tại sao tôi mua toàn cổ phiếu tốt, toàn bluechip nhưng khi thị trường giảm thì nó vẫn giảm mạnh giống như cổ phiếu penny?” Thì đó chính là điều chúng ta phải hiểu về rủi ro thị trường.
Khi rủi ro hệ thống xảy ra đối với thị trường cổ phiếu thì gần như toàn bộ các tài sản trong thị trường đó đều sẽ bị tác động. Dòng tiền bị rút ra, thanh khoản suy giảm, định giá bị co lại và tâm lý nhà đầu tư chuyển sang trạng thái phòng thủ. Và đó là điều mà tôi đã nói: rủi ro thị trường là loại rủi ro KHÔNG THỂ ĐA DẠNG HÓA.
Vậy khi không thể đa dạng hóa thì chúng ta phải làm gì? Điều đầu tiên là chúng ta phải phân tích kinh tế vĩ mô. Bởi khi đối mặt với một loại rủi ro có khả năng ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường thì nhà đầu tư bắt buộc phải theo dõi các chỉ số kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất, tỷ giá, thanh khoản hệ thống cũng như cách Chính phủ vận hành nền kinh tế thông qua CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ và CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA.
Đồng thời chúng ta cũng phải quan sát các biến cố không thể định trước như khủng hoảng tài chính, chiến tranh, dịch bệnh, khủng hoảng năng lượng hay các cú sốc địa chính trị toàn cầu. Bởi tất cả những yếu tố đó đều sẽ tác động trực tiếp đến các chỉ số kinh tế, tâm lý thị trường, dòng vốn và định giá tài sản tài chính.
Sau đó Chính phủ và Ngân hàng Trung ương sẽ phản ứng bằng cách điều chỉnh nền kinh tế thông qua chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. Ví dụ như điều chỉnh lãi suất, cung tiền, tín dụng, tỷ giá, thuế, chi tiêu công hoặc đầu tư công. Và toàn bộ những điều chỉnh đó sẽ tạo ra hiệu ứng dây chuyền lên tất cả các lớp tài sản đầu tư.
Công việc của chúng ta là phải phân tích được chuỗi tác động đó để từ đó QUẢN TRỊ DANH MỤC. Quản trị danh mục ở đây có nghĩa là chúng ta có thể giảm tỷ trọng tài sản rủi ro, tăng tỷ trọng tiền mặt, dịch chuyển dòng vốn sang các tài sản phòng thủ hoặc thực hiện hedging — tức là phòng hộ rủi ro.
Ở các quỹ đầu tư lớn, với quy mô danh mục hàng tỷ USD, họ gần như không thể bán toàn bộ tài sản trong một thời gian ngắn được. Và chính vì vậy thị trường phái sinh ra đời, mục tiêu của nó là để phòng hộ rủi ro, bảo vệ danh mục đầu tư và quản trị biến động thị trường.
Và khi các yếu tố vĩ mô hay các chỉ số kinh tế bắt đầu thay đổi thì có một số biến số mà chúng ta bắt buộc phải theo dõi rất sát. Đầu tiên là LÃI SUẤT. Bởi lãi suất chính là giá vốn của toàn bộ nền kinh tế. Trong chính sách tiền tệ, lãi suất sẽ tác động trực tiếp đến tín dụng, cung tiền, tỷ giá, thị trường ngoại hối và dòng vốn quốc tế. Và từ đây chúng ta sẽ bắt đầu gặp những lý thuyết rất quan trọng như lý thuyết cân bằng lãi suất (Interest Rate Parity – IRP), cơ chế vận động của thị trường ngoại hối cũng như mối quan hệ giữa lãi suất, tỷ giá và dòng vốn toàn cầu.
Còn đối với chính sách tài khóa thì Chính phủ sẽ tác động thông qua thuế, vay nợ công, chi tiêu công, đầu tư công và quy mô thâm hụt ngân sách. Và cuối cùng, toàn bộ những yếu tố đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, lợi nhuận doanh nghiệp, dòng tiền thị trường, định giá tài sản và toàn bộ các lớp tài sản đầu tư của chúng ta.
Thì đấy chính là cái khung tư duy mà chúng ta cần phải luôn luôn nắm rất rõ khi đi đầu tư. Bởi vì khi có một BIẾN CỐ xảy ra thì việc đầu tiên mà chúng ta cần làm không phải là hoảng loạn mua bán ngay lập tức, mà điều đầu tiên là chúng ta phải phân tích xem biến cố đó sẽ tác động như thế nào đến các chỉ số kinh tế, đến chính sách của Chính phủ và cuối cùng là đến dòng tiền của thị trường.
Ví dụ như khi COVID xảy ra, thời điểm ban đầu gần như không ai biết chính xác nó sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế và thị trường tài chính như thế nào. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào phản ứng chính sách thì chúng ta sẽ thấy ngay rằng các Ngân hàng Trung ương trên toàn thế giới bắt đầu bơm thanh khoản với quy mô cực lớn, lãi suất bị kéo xuống gần bằng 0 và cung tiền tăng mạnh chưa từng có trong lịch sử hiện đại.
Và chính vì dòng tiền được bơm ra rất mạnh nên sau cú giảm ban đầu, thị trường tài sản lại bước vào một chu kỳ tăng giá rất lớn. Nếu thời điểm đó chúng ta chỉ nhìn vào yếu tố dịch bệnh mà không phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ thì rất dễ rơi vào trạng thái bán tháo toàn bộ tài sản và sau đó bỏ lỡ cả một nhịp tăng giá rất mạnh của thị trường.
Chính vì vậy, mục tiêu quan trọng nhất của toàn bộ series này là chúng ta cùng nhau xây dựng một “khung tư duy” để khi có bất kỳ biến cố nào xảy ra, chúng ta sẽ biết cách đánh giá:
đâu là RỦI RO THỊ TRƯỜNG, đâu là RỦI RO CỤ THỂ và từ đó chúng ta sẽ có cách hành xử tương ứng.
Bởi có những vấn đề chỉ ảnh hưởng đến một doanh nghiệp hoặc một ngành riêng biệt, nhưng cũng có những vấn đề ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống tài chính và toàn bộ dòng tiền của nền kinh tế. Và hai loại rủi ro này hoàn toàn khác nhau về bản chất, vì vậy cách phản ứng của nhà đầu tư cũng sẽ hoàn toàn khác nhau.
Đó cũng là lý do tôi xin phép nhắc đi nhắc lại liên tục phần “khung tư duy” này. Bởi nếu không hiểu được phần gốc của kinh tế vĩ mô và chu kỳ dòng tiền thì rất dễ bị cuốn theo cảm xúc ngắn hạn của thị trường.
Nếu anh chị nào đọc các bài viết mà vẫn còn vướng ở những phần này thì chúng ta hoàn toàn có thể tiếp tục trao đổi thêm để làm rõ từng vấn đề.
0962721995 (Zalo)
Và qua các bài viết trước đây thì về cơ bản chúng ta đã bắt đầu nhìn thấy được sự tương tác của nền kinh tế trong ngắn hạn. Có nghĩa là chúng ta đã bắt đầu hiểu được mối quan hệ giữa:
tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất, cung tiền, tỷ giá, chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và dòng tiền thị trường.
Bởi về bản chất, toàn bộ thị trường tài chính chính là sự phản ánh kỳ vọng của dòng tiền đối với những biến số kinh tế đó.
(XEM HÌNH 2)
Đây là nội dung đã tìm hiểu.
Và tôi xin nhắc lại Ở ĐÂY Đó là mục tiêu của chính phủ là TĂNG TRƯỞNG TRONG DÀI HẠN ổn định để tăng trưởng trong ngắn hạn (HÌNH 4)
Chúng ta sẽ nhìn thấy cái đường tăng trưởng mục tiêu của chính phủ ở hình 4
Để nền kinh tế tăng trưởng trong dài hạn, hàng năm Quốc hội sẽ đề ra mức tăng trưởng GDP và Lạm phát mục tiêu trong ngắn hạn ví dụ trong năm 2026 Quốc hội giao cho chính phủ là tăng trưởng GDP là 10% và lạm phát mục tiêu là 4%
Và để tăng trưởng năm 2025 đến năm 2026 thì chugns ta sẽ có đường tổng cung 2025 và cầu 2025 cắt nhau tại điểm cân bàng, và nhiệm vụ của chính phủ là đẩy đường cầu sang phải sao cho GDP tăng 10% và lạm phát ở mức 4% là được.
Và chúng ta đã làm quen với khái niệm TỔNG CẦU (HÌNH 5) – tức là tổng cầu chi tiêu theo kế hoạch của nền kinh tế.
Ở đây chúng ta sẽ thấy:
– tiêu dùng (C) là chi tiêu của hộ gia đình,
– đầu tư (I) là chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp,
– chi tiêu Chính phủ (G) là phần chi tiêu công của nhà nước,
– và xuất khẩu ròng (NX) là chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu.
Vậy có một câu hỏi rất quan trọng:
Liệu xuất khẩu ròng có lợi cho tăng trưởng GDP hay không?
Chúng ta thử nhìn ở góc độ quy mô của nền kinh tế. Ví dụ nếu một quốc gia tạo ra được thặng dư xuất khẩu khoảng 10 tỷ USD thì rõ ràng điều đó có lợi cho tăng trưởng GDP. Bởi vì khi xuất khẩu ròng dương:
– nền kinh tế vừa tăng trưởng GDP,
– vừa gia tăng dự trữ ngoại hối,
– đồng thời tạo thêm việc làm, sản xuất và dòng tiền cho doanh nghiệp trong nước.
Chính vì vậy, hầu hết các quốc gia đang phát triển đều rất quan tâm đến xuất khẩu ròng và năng lực cạnh tranh thương mại quốc tế.
Tuy nhiên, để duy trì được xuất khẩu ròng thì lại liên quan đến rất nhiều vấn đề khác, đặc biệt là tỷ giá. Bởi tỷ giá phải được điều hành như thế nào để vừa hỗ trợ xuất khẩu, vừa giữ ổn định lạm phát, ổn định dòng vốn và ổn định kinh tế vĩ mô – đó là một bài toán cực kỳ quan trọng trong điều hành kinh tế. Và đây cũng sẽ là nội dung tôi sẽ phân tích kỹ hơn trong các bài viết tiếp theo.
Rồi chúng ta cũng đã biết rằng:
khi từng yếu tố trong tổng cầu thay đổi – tức là:
– tiêu dùng thay đổi,
– đầu tư thay đổi,
– chi tiêu Chính phủ thay đổi,
– hoặc xuất khẩu ròng thay đổi,
thì đường tổng cầu sẽ dịch chuyển.
Và tôi cũng đã có một bảng tóm tắt về các yếu tố làm thay đổi đường tổng cầu.
Ở đây chúng ta cần hiểu:
– chi tiêu Chính phủ là công cụ của CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA,
– còn lượng cung tiền là công cụ của CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ.
Về nguyên tắc, bất cứ khi nào các yếu tố này tăng lên thì đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang phải. Ngược lại, khi các yếu tố này suy giảm thì đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang trái.
Ví dụ:
– đầu tư doanh nghiệp tăng -> tổng cầu dịch sang phải,
– chi tiêu Chính phủ tăng -> tổng cầu dịch sang phải,
– xuất khẩu ròng tăng -> tổng cầu dịch sang phải.
Ví dụ như năm nay xuất khẩu ròng đạt 10 tỷ USD, năm sau tăng lên 20 tỷ USD thì điều đó có nghĩa là cầu của nền kinh tế đang gia tăng, và đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang phải.
Và chúng ta cũng đã tìm hiểu về ĐƯỜNG TỔNG CUNG (HÌNH 7).
Khác với tổng cầu, đường tổng cung trong ngắn hạn thường có xu hướng thay đổi chậm hơn rất nhiều. Ở đây, “ngắn hạn” có thể hiểu là khoảng từ 1 đến 2 năm.
Lý do là vì các yếu tố cấu thành nên năng lực cung ứng của nền kinh tế không thể thay đổi quá nhanh trong một khoảng thời gian ngắn. Ví dụ như tiền lương trong nền kinh tế thường tăng tương đối chậm và khó có thể thay đổi đủ lớn để ngay lập tức làm biến đổi toàn bộ năng lực sản xuất của nền kinh tế. Chúng ta cũng thấy rằng việc Chính phủ điều chỉnh lương trong khu vực công thường diễn ra theo chu kỳ khá dài và mức tăng thường không quá lớn.
Tiếp theo là năng suất lao động – đây là yếu tố cực kỳ quan trọng nhưng cũng rất khó cải thiện trong ngắn hạn. Bởi năng suất phụ thuộc vào:
– chất lượng lao động,
– công nghệ,
– cơ sở hạ tầng,
– trình độ quản trị,
– và mức độ phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
Đây đều là những yếu tố cần nhiều năm để tích lũy và cải thiện.
Ngoài ra, một trong những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến đường tổng cung mà chúng ta cần đặc biệt chú ý chính là GIÁ HÀNG HÓA ĐẦU VÀO.
Ví dụ như:
– giá dầu,
– giá điện,
– giá nguyên vật liệu,
– chi phí logistics,
hay chi phí lao động.
Khi chi phí đầu vào tăng mạnh thì chi phí sản xuất của doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cung ứng của toàn bộ nền kinh tế.
(XEM BẢNG NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔNG CUNG)
Và khi chúng ta đã nhìn thấy hai yếu tố là TỔNG CUNG và TỔNG CẦU thì chúng ta sẽ bắt đầu hiểu được cách nền kinh tế hình thành một mức giá cân bằng.
Nói cách khác, chính sự tương tác giữa tổng cung và tổng cầu sẽ quyết định:
– mức giá chung của nền kinh tế,
– tốc độ tăng trưởng GDP,
– lạm phát,
– cũng như trạng thái cân bằng vĩ mô trong từng giai đoạn.
MÔ HÌNH TỔNG CUNG – TỔNG CẦU (HÌNH 9):
Mô hình tổng cung – tổng cầu kết hợp đường đường tổng câug và tổng cung ngắn hạn.
Giao điểm là điểm cân bằng kinh tế vĩ mô ngắn hạn tại đó lượng cầu của tổng tài sản cân bằng với lượng cung của tổng sản lượng.
Và chúng ta đã nắm được CÚ SỐC CẦU TÍCH CỰC (HÌNH 10)
Ví dụ như chúng ta nhìn thấy khi chinh phủ đưa ra Gói hỗ trợ 350 nghìn tỷ: để giúp nền kinh tế sớm lấy lại đà tăng trưởng
Chúng ta nhìn thấy đường Tổng cầu1 khi chính phủ hỗ trợ 350 nghìn tỷ đường cầu dịch chuyển sang phải
TỔNG CẦU 1 — > TỔNG CẦU 2
Khí mà đường cầu dịch chuyển thì đường cân bằng E1 sẽ dịch chuyển dang điểm E2 và chúng ta sẽ nhìn thấy GDP tăng từ GDP1 sang GDP22 đồng thời lạm phát cũng tăng P1->P2
Ví dụ CÚ SỐC CẦU TIÊU CỰC
Ví dụ như đại dịch covid
Chúng ta có điểm cân bằng E1 khi đường cầu thu hẹp thì chúng ta có GDP giảm và thậm chí là giảm phát (p1->p2) chúng ta đã trãi qua thời kỳ này rồi. Xem rất kỹ ở những bài trước.
Rồi tiếp theo là cú SỐC CUNG TÍCH CỰC (HÌNH 11):
Ví dụ như Opec tăng sản lượng dầu:
Chúng ta sẽ thấy ở góc độ thế giới thì giá dầu là một trong những yếu tố đầu vào vô cùng quan trọng, chúng ta sẽ nhìn thấy
CUNG 1 cắt CẦU 1 tại E1 khi tăng sản lượng dầu thì đường cung chạy sang phái tay phải (cái gì tich cực thì nó sang bên tay phải hết) và chúng ta có điểm cân bằng mới nơi GDP thì tăng trưởng mà giá thì lại giảm.
Và chúng ta sẽ có CÚ SỐC CUNG TIÊU CỰC (HÌNH 12):
Cú sốc cung tiêu cực ví dụ Gía Dầu tăng, tương tự ta có điểm cân bằng đầu tiên E1 và khi cú sốc cung tiêu cực xảy ra đường cung dịch chuyển sang trái và chúng ta sẽ thấy GDP giảm và lạm phát tăng. Đây là một cái trường hợp khó xử lý trong kin htees học tại vì chúng ta sẽ thấy khi mà giá đã tăng lên như thế này chúng ta rất khó để đẩy đường cầu ra, nếu như chúng ta lại tiếp tục đẩy đường cầu lên thì chúng ta phải chấp nhận một mức lạm phát cao hơn nữa
Mà thông thường lạm phát thì nó có một cái tính gọi là khi mọi người đã quen với một nền giá mới thì rất khó để giảm giá (tăng GDP thì dễ chứ để giảm lạm phát rất là khó)
Và chúng ta đã thấy rằng nếu như mà không có chính phủ can thiệp thì chúng ta đã nhìn thấy bài học của cuộc đại khủng hoảng mất rất nhiều thời gian để có thể hồi phục (hình 14)
Thế còn bây giờ, khi có sự can thiệp của CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ và CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA thì chúng ta sẽ bắt đầu nhìn thấy vai trò của Chính phủ trong việc ổn định nền kinh tế, đặc biệt là khi xuất hiện các cú sốc kinh tế.
Ví dụ ở đây là cú sốc cung – tức là đường tổng cung dịch chuyển sang bên trái. Điều đó có nghĩa là chi phí sản xuất tăng lên hoặc năng lực cung ứng của nền kinh tế suy giảm, từ đó làm cho sản lượng giảm nhưng mức giá lại tăng lên.
Và người đặt nền móng cho tư duy kinh tế học hiện đại về vai trò can thiệp của Chính phủ chính là nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes.
Sau cuộc Đại khủng hoảng 1929, Keynes cho rằng thị trường không phải lúc nào cũng có khả năng tự điều chỉnh hoàn hảo. Chính vì vậy, Chính phủ cần phải can thiệp để ổn định nền kinh tế thông qua:
– chính sách tài khóa,
– và chính sách tiền tệ.
Ở đây, chính sách tài khóa có thể gồm:
– tài khóa thắt chặt – tức là tăng thuế và giảm chi tiêu Chính phủ,
– hoặc tài khóa mở rộng – tức là giảm thuế và tăng chi tiêu Chính phủ để kích thích nền kinh tế.
Còn đối với chính sách tiền tệ thì chúng ta cũng đã biết rằng Ngân hàng Trung ương sẽ tác động thông qua:
– lãi suất,
– cung tiền,
– tín dụng,
– và thanh khoản của hệ thống tài chính.
Vậy có một câu hỏi rất quan trọng:
Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa sẽ tác động đến đường tổng cung hay đường tổng cầu?
Câu trả lời là:
trong ngắn hạn, gần như toàn bộ chính sách điều hành của Chính phủ chủ yếu tác động vào TỔNG CẦU.
Đây là điều cực kỳ quan trọng.
Ví dụ:
khi Chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng, tức là tăng chi tiêu công (G tăng), thì tổng cầu của nền kinh tế sẽ tăng lên và đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang bên phải.
Hoặc đối với chính sách tiền tệ:
khi lãi suất giảm xuống, chi phí vay vốn trở nên rẻ hơn, doanh nghiệp sẽ muốn đầu tư nhiều hơn, người dân sẽ muốn tiêu dùng nhiều hơn và dòng tiền trong nền kinh tế sẽ tăng lên. Kết quả là tổng cầu cũng sẽ dịch chuyển sang bên phải.
Và đó cũng chính là lý do vì sao chúng ta thường xuyên nghe cụm từ “KÍCH CẦU” trên báo chí.
Bởi về bản chất, kích cầu chính là việc Chính phủ sử dụng các công cụ chính sách để tác động làm tăng tổng cầu của nền kinh tế.
Còn đối với đường tổng cung thì lại khác.
Đường tổng cung trong ngắn hạn rất khó thay đổi nhanh vì nó phụ thuộc vào các yếu tố nền tảng như:
– năng suất lao động,
– công nghệ,
– cơ sở hạ tầng,
– chất lượng nguồn nhân lực,
– và đặc biệt là giá hàng hóa đầu vào.
Ví dụ như:
– giá dầu,
– giá điện,
– giá nguyên vật liệu,
– hay chi phí logistics.
Đây đều là những yếu tố mà Chính phủ rất khó kiểm soát hoàn toàn trong ngắn hạn, đặc biệt trong một nền kinh tế mở và hội nhập quốc tế.
(p/s: chưa chỉnh sửa)
Bài viết được trích xuất và lưu trữ từ trang chính thức CMB Investing – Cố Vấn Đầu Tư VPS. Xem bài viết gốc trên Facebook ↗
Mỗi ấn phẩm Tạp Chí CMB được chắt lọc từ những chiêm nghiệm sống và phân tích đầu tư thực chiến, nhằm đồng hành cùng các anh chị trên con đường tự do tài chính.