SERIES ĐỌC VỊ VĨ MÔ TRONG PHÂN TÍCH – VÀNG – CHỨNG KHOÁN – BĐS
Phần 2: Chính sách tiền tệ - tài khoá và kết hợp tiền tệ…
– Phần 2: DỰ PHÓNG GDP – LẠM PHÁT
(GDP, lạm phát thay đổi --> Chính phủ (chính sách tài khoá, cs tiền tệ --> Lãi xuất --> Tiền gửi, vàng, chứng khoán, bđs)--> Dự phóng trước để đi trước Always two steps ahead
– Xem lại phần 1
LẠM PHÁT/ INFLATION.
Mục đích: Hiểu hơn về chủ đề lạm phát cũng như cách mà các chính phủ quản lý nền kinh tế như thế nào.
– Thế nào là lạm phát do chi phí đẩy
– Thế nào là lạm phát do cầu kéo
– Và chỉ số giá tiêu dùng CPI
– Tại sao CPI của IMF lại khác với CPI của Việt Nam
Đã có bài viết về phần này rồi, tuy nhiên bài này đơn giản hơn rất nhiều (bài trước: https://www.facebook.com/share/p/1T1Q4rntev/
Chúng ta lại nhắc lại câu quen thuộc trước khi đi tiếp: Tôi có một mảnh đất khá là rộng. Trên mảnh đất đó có tài nguyên, có con người, và từ đây tôi bắt đầu hình dung ra một nền kinh tế thu nhỏ trong một sơ đồ. Mọi thứ trong kinh tế thực chất xoay quanh việc: làm sao sử dụng nguồn lực hữu hạn (đất, lao động, vốn) để tạo ra nhiều giá trị nhất….
https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=122130507381129767&id=61583893011148
…..
Rồi, ai cũng biết, khi đủ tuổi tham gia vào thị trường lao động, chúng ta có hai việc rất quan trọng cần phải làm cho tương lai của mình. Thứ nhất là đóng bảo hiểm xã hội để sau này có một nguồn thu nhập cơ bản khi về già. Thứ hai, và cũng quan trọng không kém, là phải chủ động tích luỹ và đầu tư ngay từ khi còn trẻ, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào chính sách hưu trí.
Nhiều người nghĩ rằng tích luỹ chỉ đơn giản là mỗi tháng để dành một phần lương rồi cất vào két sắt hoặc tài khoản tiết kiệm. Nhưng thực tế, nếu chỉ giữ tiền mà không đầu tư hay làm cho tài sản tăng trưởng, thì theo thời gian đồng tiền sẽ dần mất giá vì lạm phát.
Lạm phát giống như là sát thủ vô hình đối với túi tiền của chúng ta, nếu chúng ta không có phương pháp để đối phó mà cứ lầm lũi đí làm rồi tích luỹ thì tới lúc cần tiền, mở túi tiền ra có khi là tài sản của mình không còn được bao nhiêu.
Chúng ta chỉ xem bảo hiểm xã hội là một dạng cộng thêm, chúng ta không nên để tương lai của mình dựa hoàn toàn vào cái nguồn thu đó, thay vào đó chúng ta nên tích luỹ và đầu tư từ những năm còn trẻ để chủ dộng chuẩn bị cho cái tuổi già của mình, thay vào dựa hoàn toàn vào chính sách hưu trí.
Bây giờ chúng ta đã thấy được cấp bách của việc tích luỹ rồi, từ nay mỗi tháng đi làm thì chúng ta trích ra một khoảng tiền lương của mình để vào két sắt rồi tích luỹ dần? nhưng đây là cách nguy hiểm nhất để chúng ta tích luỹ và cái nguy hiểm đó không đến từ viêc chúng ta bị trộm cắp hay không mà chính là sự mất giá của đồng tiền.
Năm 2000: 1 ly cafe 10.000đ
Năm 2020: ly cafe 50.000đ
Nghĩa là trong vòng 20 năm giá trị mà chúng ta tích luỹ mất gía 5 lần, bây giờ cũng cái tỉ lệ đó chúng ta thử tưởng tượng cả một cuộc đời cặm cụi đi làm của mình từ năm 20 tuổi đến những năm 60 tuổi là 40 năm thì giá trị của chúng ta tích luỹ được sẽ giẳm 10 lần. hoặc nói một cách khác khi mà tới khi về hưu thì nó chỉ còn lại 1/10 lượng tiền mà chúng ta tích luỹ được. Tất nhiên trong thực tế thì nó sẽ còn nhiều khía cạnh khác phức tạp hơn.
Ví dụ, vào khoảng năm 2000, một ly cà phê bình dân ở Việt Nam chỉ có giá khoảng 5.000 – 7.000 đồng. Nhưng đến năm 2025, một ly cà phê ở các thành phố lớn đã phổ biến ở mức 35.000 – 50.000 đồng, thậm chí cao hơn ở các chuỗi cà phê hiện đại.
Nghĩa là trong vòng 20 năm giá trị mà chúng ta tích luỹ mất gía 5 lần, bây giờ cũng cái tỉ lệ đó chúng ta thử tưởng tượng cả một cuộc đời cặm cụi đi làm của mình từ năm 20 tuổi đến những năm 60 tuổi là 40 năm thì giá trị của chúng ta tích luỹ được sẽ giảm 10 lần. hoặc nói một cách khác khi mà tới khi về hưu thì nó chỉ còn lại 1/10 lượng tiền mà chúng ta tích luỹ được. Tất nhiên trong thực tế thì nó sẽ còn nhiều khía cạnh khác phức tạp hơn.
Nhà đầu tư RAY DALIO nhà sáng lập của Hedge Fund lớn nhất thế giới hiện tại nó tên là Bridgewater ông có nói: “Crash is trash” tiền mặt là rác rưởi có nghĩa là tích luỹ tiền mặt là cách tê hại nhất để mà chúng ta xây dựng tài chính.
Trường hợp 1: nếu chúng ta không để dành tiền, bởi vì để tiền nằm im một chỗ vì nó sẽ đi lùi vậy thì bây giờ chúng ta sẽ để tiền vào một tài khoản tiết kiệm, mỗi năm ngân hàng trả lãi vậy thì tiền của chúng ta sẽ tăng mỗi năm và chúng ta không lo đến chuyện mất giá nữa? điều này thoạt nghe thì nó có vẻ hợp lý nhưng mà khi đào sâu vào phân tích chúng ta sẽ thấy là cách đó không ổn.
Và điều này chính là lạm phát và nó là kẻ thù âm thầm đối với tất cả các khoản tích luỹ của chúng ta. Vậy chúng ta sẽ bắt đầu tìm hiểu lạm phát nó là cái gì? và lạm phát từ đâu ra?. Lạm phát tiếng anh là INFLATION về cơ bản nó là là sự giảm sút của sức mua của đồng tiền. Gỉa sử ngày hôm trước chúng ta có thể mua được ly caffee với một tờ tiền là 10 ngàn thì sau một thời gian chúng ta cần phải có 5 tờ thì mới có thể mua được một ly cafe tương tự thì đó là lạm phát.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới lạm phát.
Nhưng có 3 nguyên nhân chính:
Lạm phát do chi phí đẩy (cost push inflation):
Đây là trường hợp mà chi phí sản xuất của các doanh nghiệp tăng lên và do đó họ phải tăng giá hàng hoá mà họ sản xuất để mà tiếp tục duy trì hoạt động. Vậy tại sao chi phí sản xuất lại tăng?
Thì nó đến từ rất nhiều nguyên nhân ví du như thứ nhất, giá nguyên liệu thô tăng lên (giả sử như doanh nghiệp đó sản xuất ô tô thì có thể là giá kim loại tăng, hoặc là nếu công ty đó làm vận tải thì có thể là giá xăng đầu tăng)
Lý do thứ 2 thì đó là chi phí nhân công: giả sử thị trường lao động khan hiếm người giỏi nên công ty buộc phải trả mức lương cao hơn đẻ kiếm được người và giữ người, thì đó cũng là cái chi phí làm cho hoạt động của họ tăng lên, hoặc có thể do chi phí mặt bằng, thuê văn phòng, thuê nhà xưởng cao hơn trước đây.
Tất cả chi phí này sẽ làm cho tổng chi phí sản xuất vận hành của một doanh nghiệp tăng lên, từ đó thì dù muốn hay không thì bắt buộc doanh nghiệp phải tăng giá sản phẩm lên và cái điểm cuối cùng của chuỗi tăng giá này là người dùng họ phải trả nhiều tiền hơn cho món hàng mà doanh nghiệp đó sản xuất đó là cost push inflation.
Nguyên nhân phổ biến thứ 2 là Demand-pull inflation hay lạm phát do cầu kéo:
Đây là trường hợp mà quá nhiều người tiêu dùng cần một món gì đó nhưng bên phía sản xuất không thể sản xuất kịp để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Một trong những lý do phổ biến của việc này là mức sống của người dân tăng lên theo thời gian, dẫn đến họ có nhiều tiền hơn và từ đó mua sắm nhiều hơn.
Điều này không đâu xa lạ. Ví dụ như Việt Nam chúng ta cách đây khoảng 30 năm, thời kỳ mới mở cửa, lúc đó cả đất nước còn rất khó khăn, đa số ai cũng nghèo. Nhu cầu khi đó khá đơn giản, chỉ cần ăn no mặc ấm là đủ. Còn bây giờ, khi đất nước phát triển hơn, chúng ta đã bước qua giai đoạn “ăn no mặc ấm” và chuyển sang giai đoạn “ăn ngon mặc đẹp”. Do đó, chúng ta mua sắm nhiều hơn, làm cho nhu cầu tiêu dùng tăng cao hơn, và từ đó khiến giá các mặt hàng tăng lên.
Đây cũng là lý do mà ở khía cạnh kinh tế vĩ mô, nhà nước có thể kiểm soát tỉ lệ lạm phát bằng một số công cụ như giảm thuế hoặc phổ biến hơn là tăng, giảm lãi suất. Bởi vì về cơ bản, khi giảm những thứ này thì người dân có cơ hội tiếp cận tiền nhiều hơn, từ đó nhu cầu mua sắm sẽ cao hơn.
Nếu chúng ta hiểu điều này thì cũng sẽ thấy rằng không phải lúc nào giảm thuế cũng là điều tốt. Nhìn trên bề mặt thì chắc ai trong chúng ta cũng thích giảm thuế để có nhiều tiền hơn. Nhưng nhìn ở góc độ vĩ mô trong dài hạn, giảm thuế sẽ làm tăng demand, nghĩa là tăng nhu cầu tiêu dùng, và từ đó sẽ đẩy giá hàng hoá lên cao hơn. Trường hợp này cũng tương tự với việc giảm lãi suất. Chúng ta hãy tưởng tượng mình đang mua một ngôi nhà. Trước đây lãi suất là 10%, nhưng bây giờ lãi suất chỉ còn 2%. Lúc này động lực mua nhà của chúng ta sẽ tăng lên rất nhiều, từ đó sẽ có nhiều người quyết định mua nhà hơn. Nếu chúng ta zoom out ra toàn cảnh nền kinh tế thì sẽ thấy nhu cầu thị trường cũng tăng lên, và trong ví dụ này sẽ đẩy giá nhà lên cao hơn, tương tự như vậy đối với các mặt hàng khác.
Do đó, việc giảm thuế hay giảm lãi suất luôn được các chính phủ kiểm soát rất kỹ. Tất cả đều nhằm kiểm soát demand, tức là nhu cầu của người tiêu dùng. Và đó là khía cạnh thứ hai: Demand-pull inflation.
Lý do thứ 3 cũng là lý do phổ biến nhất mà hầu như khi nghĩ tới lạm phát thì mọi người sẽ nghĩ tới đầu tiên, đó là do ngân hàng nhà nước in thêm tiền. Điều này có thể hiểu đơn giản như sau:
Giả sử trên thị trường có 1.000 tờ giấy bạc mệnh giá 500.000 đồng và có một lượng hàng hoá cố định. Bây giờ giả sử số lượng hàng hoá trên thị trường không thay đổi nhưng nhà nước quyết định in thêm 1.000 tờ giấy bạc nữa và đưa vào lưu thông trên thị trường. Lúc này sẽ đồng nghĩa với việc là mỗi tờ giấy bạc, tuy con số in trên giấy vẫn là 500.000 đồng, nhưng sức mua của nó sẽ giảm đi một phần. Nói cách khác, có nhiều tiền hơn đang đuổi theo cùng một lượng hàng hoá như cũ nên giá hàng hoá sẽ tăng lên.
Và lý do chính phủ làm việc này, một lần nữa, là để tăng sức mua của nền kinh tế. Nói nôm na thì đây cũng là một công cụ để nhà nước kiểm soát và kích thích nền kinh tế.
Vậy lạm phát có phải là xấu hay không?
Thông thường, khi nhắc tới lạm phát thì mọi người sẽ nhìn nó dưới góc độ khá tiêu cực, bởi vì về cơ bản nó làm cho đồng tiền mất giá trị dần theo thời gian. Nhưng thật ra, nếu hiểu một cách tường tận thì lạm phát không hẳn là xấu.
Lạm phát chỉ thực sự xấu khi nó tăng trưởng một cách mất kiểm soát, như trường hợp của Zimbabwe hay Venezuela. Hoặc ngay cả Việt Nam của chúng ta trong những năm sau chiến tranh cũng từng có một giai đoạn lạm phát rất nghiêm trọng.)
Do đó, mấu chốt ở đây là chúng ta phải kiểm soát được tỉ lệ lạm phát ở một mức thích hợp. Đây là lý do tại sao chính phủ của tất cả các nước trên thế giới đều theo dõi rất kỹ và kiểm soát rất chặt chẽ vấn đề này.
Còn đối với chúng ta, đây là một khía cạnh rất quan trọng, không chỉ ở mức độ đầu tư mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hằng ngày. Nó sẽ ảnh hưởng đến giá cả, thực phẩm mà chúng ta tiêu dùng hằng ngày. Ngoài ra, nó còn tác động đến lãi suất mà chúng ta đi vay, và ngay cả tiền lương chúng ta nhận được hằng tháng cũng bị ảnh hưởng.
Nhưng thực tế là rất ít người hiểu rõ những khái niệm này.
Rồi bây giờ là phần nâng cao hơn một chút giải thích lạm phát thông qua TỔNG CUNG – TỔNG CẦU:
Phần này đã được viết rất kỹ ở Phần 1 của series:
https://www.facebook.com/share/p/18X9gKSgRK/
(đọc lại bài viết cũ nếu chưa hiểu)
LẠM PHÁT DO CHI PHÍ ĐẨY: KHI GIÁ CẢ TĂNG KHÔNG PHẢI VÌ NGƯỜI DÂN “MUA QUÁ NHIỀU” – ĐÌNH LẠM
Đây là loại lạm phát xảy ra khi chi phí sản xuất tăng lên, khiến doanh nghiệp buộc phải tăng giá bán hàng hóa và dịch vụ để bảo vệ lợi nhuận. Nói cách khác, giá cả tăng không phải vì nhu cầu quá lớn, mà vì nền kinh tế trở nên “đắt đỏ hơn” để sản xuất.
Các nguyên nhân phổ biến gồm:
Giá năng lượng tăng (xăng dầu, điện, khí đốt)
Tiền lương tăng mạnh
Giá nguyên vật liệu nhập khẩu tăng
Chi phí logistics và vận chuyển tăng
Thuế hoặc chi phí tuân thủ pháp lý tăng
Trong slide trên, có thể thấy hai ví dụ điển hình:
Lương tăng → chi phí lao động tăng
Giá năng lượng tăng → chi phí đầu vào tăng
Khi hai yếu tố này cùng tăng, gần như toàn bộ nền kinh tế sẽ chịu áp lực chi phí.
PHÂN TÍCH BẰNG MÔ HÌNH TỔNG CUNG – TỔNG CẦU (AS-AD)
Trong kinh tế vĩ mô, hiện tượng này được giải thích bằng mô hình Tổng cung (AS) – Tổng cầu (AD).
Ở trạng thái ban đầu:
Đường Tổng cung 1 (AS1) cắt đường Tổng cầu 1 (AD1)
Nền kinh tế đạt sản lượng thực tế tại mức Q1
Mức giá chung là P1
Khi chi phí sản xuất tăng:
Doanh nghiệp sản xuất khó khăn hơn
Lợi nhuận bị thu hẹp
Nhiều doanh nghiệp giảm sản lượng hoặc tăng giá bán
Kết quả là đường tổng cung dịch chuyển sang trái, từ:
AS1 -->AS2 (Tông cung 1-> Tổng cung 2)
Điều này phản ánh rằng:
Với cùng một mức giá, nền kinh tế sản xuất được ít hàng hóa hơn (Q1 < Q2)
Hoặc muốn sản xuất cùng lượng hàng hóa cũ thì giá phải cao hơn
Trong sơ đồ HÌNH 1:
Đường đỏ nét đứt là Tổng cung 1
Đường đỏ liền là Tổng cung 2
Đường tổng cung dịch sang trái làm mức giá tăng từ:
P1 -->P2
Trong khi sản lượng thực tế lại suy giảm hoặc đình trệ.
Đây chính là đặc điểm nguy hiểm nhất của lạm phát do chi phí đẩy:
Giá cả tăng nhưng nền kinh tế không thực sự tăng trưởng mạnh.
TẠI SAO CHÍNH PHỦ THƯỜNG “KÍCH CẦU”?
Trong hình có mũi tên “Chính phủ kích cầu”.
Khi nền kinh tế bị suy giảm sản lượng vì chi phí tăng, chính phủ thường phản ứng bằng:
Tăng chi tiêu công
Giảm lãi suất
Bơm tiền
Hỗ trợ tín dụng
Mục tiêu là kéo tổng cầu dịch chuyển sang phải từ:
AD1--> AD2
AD1-->AD2:
Khi tổng cầu tăng:
GDP thực có thể phục hồi
Doanh nghiệp bán được nhiều hàng hơn
Thất nghiệp giảm
Tuy nhiên, cái giá phải trả là:
Mức giá tiếp tục tăng từ P2 lên P3
Tức là chính phủ đang phải đánh đổi giữa:
Tăng trưởng kinh tế
Và kiểm soát lạm phát (mà khi người ta quen với một mức giá rồi thì điều chỉnh rất khó khăn, bát phở đang 65 nghìn, có bao giờ năm sau còn 40nghìn, đấy chỉ là ví dụ để ac dễ hình dung)
Vì lý do đó, Đây là bài toán cực kỳ khó trong kinh tế vĩ mô.
VÌ SAO LẠM PHÁT DO CHI PHÍ ĐẨY NGUY HIỂM?
Khác với lạm phát cầu kéo – khi nền kinh tế thường tăng trưởng nóng – lạm phát chi phí đẩy có thể tạo ra tình trạng:
Giá cả tăng
Tăng trưởng chậm
Thất nghiệp gia tăng
Hiện tượng này được gọi là:
Stagflation
Hay còn gọi là đình lạm.
Đây là cơn ác mộng của các ngân hàng trung ương vì:
Nếu tăng lãi suất để chống lạm phát -> kinh tế càng suy yếu
Nếu hạ lãi suất để cứu tăng trưởng -> lạm phát càng tăng mạnh
VÍ DỤ THỰC TẾ TRÊN THẾ GIỚI
1. Khủng hoảng dầu mỏ thập niên 1970
Khi giá dầu tăng sốc do xung đột địa chính trị:
Chi phí vận tải tăng
Chi phí sản xuất toàn cầu tăng
Giá hàng hóa tăng mạnh
Mỹ và châu Âu rơi vào tình trạng:
Lạm phát cao
Tăng trưởng thấp
Thất nghiệp cao
Đây là ví dụ kinh điển của lạm phát do chi phí đẩy.
2. Giai đoạn sau COVID-19
Sau đại dịch:
Chuỗi cung ứng đứt gãy
Giá vận tải container tăng mạnh
Giá năng lượng và thực phẩm tăng
Nhiều quốc gia chứng kiến:
CPI tăng mạnh
Giá xăng dầu tăng
Giá thực phẩm leo thang
Dù nhu cầu tiêu dùng chưa phục hồi hoàn toàn.
TÓM LẠI:
Lạm phát do chi phí đẩy là hiện tượng:
Chi phí sản xuất tăng làm tổng cung suy giảm, khiến giá cả tăng lên.
Trong mô hình Tổng cung – Tổng cầu:
Đường tổng cung dịch chuyển sang trái
Mức giá tăng từ P1 --> P2
Sản lượng thực suy yếu
Đây là dạng lạm phát đặc biệt nguy hiểm vì nó có thể khiến nền kinh tế rơi vào trạng thái:
Giá cả tăng
Tăng trưởng trì trệ
Đời sống người dân khó khăn hơn
Do đó, để kiểm soát loại lạm phát này, chính phủ không chỉ cần chính sách tiền tệ mà còn phải:
Ổn định năng lượng
Phát triển chuỗi cung ứng
Nâng cao năng suất
Giảm phụ thuộc nhập khẩu
Hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất
Về bản chất, muốn chống lạm phát chi phí đẩy một cách bền vững, điều quan trọng nhất không phải chỉ là “siết tiền”, mà là làm cho nền kinh tế sản xuất hiệu quả hơn.
LẠM PHÁT DO CẦU KÉO: KHI “QUÁ NHIỀU TIỀN” ĐUỔI THEO “QUÁ ÍT HÀNG HÓA” – TĂNG TRƯỞNG NÓNG.
Trong kinh tế học vĩ mô, một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây ra lạm phát là lạm phát do cầu kéo (Demand-pull Inflation). Đây là hiện tượng xảy ra khi nhu cầu chi tiêu trong nền kinh tế tăng quá mạnh, trong khi khả năng sản xuất hàng hóa và dịch vụ không tăng kịp, từ đó làm cho mặt bằng giá chung bị đẩy lên cao.
Nói một cách đơn giản, khi người dân, doanh nghiệp và chính phủ cùng lúc chi tiêu nhiều hơn trong khi lượng hàng hóa của nền kinh tế không tăng tương ứng, giá cả sẽ bắt đầu tăng lên. Đây chính là bản chất của lạm phát do cầu kéo.
Trong slide trên, chúng ta có thể thấy hai yếu tố quan trọng làm cho tổng cầu của nền kinh tế tăng lên, đó là cung tiền tăng và chi tiêu công tăng. Khi ngân hàng trung ương hạ lãi suất hoặc bơm thêm tiền vào nền kinh tế, các ngân hàng sẽ cho vay dễ hơn. Người dân dễ vay tiền để tiêu dùng, mua nhà, mua xe hoặc đầu tư. Doanh nghiệp cũng vay vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, chính phủ có thể tăng chi tiêu công bằng cách xây dựng cầu đường, sân bay, cơ sở hạ tầng hoặc tung ra các gói kích thích kinh tế. Tất cả những dòng tiền này đều làm cho tổng cầu của nền kinh tế tăng mạnh hơn trước.
Để hiểu rõ hơn hiện tượng này, chúng ta có thể sử dụng mô hình Tổng cung – Tổng cầu (AS-AD). Trên sơ đồ, trục tung thể hiện mức giá chung của nền kinh tế, còn trục hoành thể hiện GDP thực tế hay sản lượng thực tế của nền kinh tế.
Ban đầu, nền kinh tế cân bằng tại điểm giao giữa đường Tổng cung 1 (AS1) và Tổng cầu 1 (AD1), tương ứng với mức giá:
P1
Khi chính phủ kích cầu, cung tiền tăng và chi tiêu trong nền kinh tế tăng lên, đường tổng cầu dịch chuyển sang phải từ:
AD1 --> AD2 (Cầu 1 --> Cầu 2)
Điều này phản ánh rằng người dân muốn mua nhiều hàng hóa hơn, doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn và chính phủ cũng chi tiêu mạnh hơn trước. Trong ngắn hạn, doanh nghiệp sẽ mở rộng sản xuất để đáp ứng nhu cầu tăng lên, khiến GDP thực tế tăng. Đồng thời, mặt bằng giá chung của nền kinh tế cũng tăng từ:
P1 --> P2
Đây chính là giai đoạn của lạm phát do cầu kéo.
Tuy nhiên, nếu nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng quá nóng trong thời gian dài, nhiều vấn đề mới sẽ bắt đầu xuất hiện. Khi nhu cầu tăng quá mạnh, doanh nghiệp phải cạnh tranh lao động với nhau, khiến tiền lương tăng lên. Giá nguyên vật liệu, năng lượng, chi phí vận tải và chi phí sản xuất cũng bắt đầu leo thang. Điều này làm cho doanh nghiệp sản xuất khó khăn hơn và tổng cung của nền kinh tế suy giảm.
Trên mô hình AS-AD, hiện tượng này được thể hiện bằng việc đường tổng cung dịch chuyển sang trái từ:
AS1 --> AS2 (Cung --> Cung 2)
Khi tổng cung giảm trong khi tổng cầu vẫn ở mức cao, mặt bằng giá của nền kinh tế tiếp tục tăng từ:
P2 --> P3
Lúc này, nền kinh tế không còn chỉ đối mặt với lạm phát do cầu kéo nữa, mà bắt đầu xuất hiện thêm yếu tố lạm phát do chi phí đẩy (Cost-push Inflation). Đây cũng chính là lý do vì sao trong thực tế, nhiều giai đoạn lạm phát thường không xuất phát từ một nguyên nhân duy nhất mà là sự kết hợp của nhiều yếu tố khác nhau.
Chúng ta có thể hình dung đơn giản rằng nếu lượng tiền trong nền kinh tế tăng nhanh hơn tốc độ sản xuất hàng hóa và dịch vụ, thì sức mua của đồng tiền sẽ suy giảm. Nói cách khác, mỗi đồng tiền sẽ mua được ít hàng hóa hơn trước. Ví dụ, nếu trước đây nền kinh tế có 1 triệu sản phẩm và 1 triệu đồng lưu thông, nhưng sau đó lượng tiền tăng lên gấp đôi trong khi sản lượng hàng hóa gần như không đổi, thì giá cả sẽ có xu hướng tăng lên.
Đó là lý do vì sao trong dài hạn, việc bơm tiền quá mạnh thường tạo ra áp lực lạm phát. Trong ngắn hạn, việc tăng cung tiền có thể giúp kích thích tăng trưởng kinh tế, giảm thất nghiệp và thúc đẩy sản xuất. Tuy nhiên, nếu tổng cầu tăng nhanh hơn năng lực sản xuất thực tế của nền kinh tế, giá cả sẽ bắt đầu leo thang và tạo ra lạm phát.
Sau đại dịch COVID-19, nhiều quốc gia trên thế giới đã hạ lãi suất xuống mức rất thấp, bơm một lượng tiền lớn vào nền kinh tế và tăng mạnh chi tiêu công để cứu tăng trưởng. Điều này giúp kinh tế phục hồi nhanh hơn, nhưng đồng thời cũng khiến lạm phát tăng mạnh trong giai đoạn 2021-2023. Tại nhiều quốc gia, giá nhà đất, chứng khoán, năng lượng và hàng hóa đều tăng mạnh vì lượng tiền trong nền kinh tế tăng nhanh hơn khả năng sản xuất thực tế.
Tóm lại, lạm phát do cầu kéo là hiện tượng xảy ra khi tổng cầu của nền kinh tế tăng nhanh hơn khả năng cung ứng hàng hóa và dịch vụ. Trong mô hình Tổng cung – Tổng cầu, hiện tượng này được thể hiện bằng việc đường tổng cầu dịch chuyển sang phải làm mức giá tăng từ P1 lên P2. Nếu nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng nóng và chi phí sản xuất tăng lên, tổng cung có thể suy giảm khiến mức giá tiếp tục tăng từ P2 lên P3. Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng trung ương là phải kiểm soát cung tiền, lãi suất và tín dụng để giữ cho tăng trưởng kinh tế ổn định mà không làm lạm phát bùng nổ quá mạnh.
PHẦN TIẾP THEO:
Và bây giờ chúng ta sẽ đi tìm hiểu nó thông qua các chỉ số thường được dùng để đo tỉ lệ lạm phát. Ở Việt Nam, người ta ít nhắc trực tiếp đến “tỉ lệ lạm phát”, thay vào đó thường dùng một khái niệm phổ biến hơn là chỉ số giá tiêu dùng (CPI).
Vậy chỉ số CPI liên hệ như thế nào đối với tỉ lệ lạm phát? Và quan trọng nó ảnh hưởng như thế nào đối với cuộc sống của chúng ta. Đơn giản CPI là một trong nhiều chỉ số mà phản ánh tỉ lệ lạm phát. Chúng ta thông qua ví dụ sau để hiểu rõ hơn:
Ở đây chúng ta có một báo cáo về chỉ số CPI của Việt Nam trong giai đoạn năm 2010 đến năm 2020:
Tính theo QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ (IMF) & TỔNG CỤC THỐNG KÊ VIỆT NAM:
Xem ở đây:
https://www.statista.com/statistics/975686/vietnam-consumer-price-index/
Từ những con số trong biểu đồ ta có bảng tính sau đây:
CPI tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020 tăng liên tục từ 100 điểm lên 168,78 điểm, lần lượt qua các năm: 2010 (100), 2011 (118,68), 2012 (129,47), 2013 (138), 2014 (144,5), 2015 (145,77), 2016 (150,5), 2017 (155,8), 2018 (161,31), 2019 (165,82) và 2020 (168,78).
Và những số liệu của tổng cục thống kê của Việt Nam:
Trong khi theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, CPI dao động quanh mức 100–118 điểm, cụ thể: 2010 (109,19), 2011 (118,58), 2012 (109,21), 2013 (106,6), 2014 (104,09), 2015 (100,63), 2016 (102,66), 2017 (103,53), 2018 (103,54), 2019 (102,79) và 2020 (103,23).
(Chúng ta nhìn bảng ở dưới sẽ dễ hình dung hơn)
Và cái điều ngay lập tức mà chúng ta thấy là các con số lệch nhau khá nhiều, những con số CPI bên quỹ tiền tệ IMF nó cao hơn rất là nhiều so với tổng cục thống kê. Vậy thì tại sao lại như vậy? thật ra thì hai báo cáo này nó không sai, chỉ là trong báo cáo của Việt Nam, thực ra nó có một cách tính khác.
Chúng ta có một ví dụ như vầy:
Giả sử vào năm 2010 chúng ta đi chợ mỗi lần 1 tuần và mỗi lần đi chợ chúng ta mua một giỏ hàng ở trong đó có nhiều mặt hàng tổng trị gía của mặt hàng là 1 triệu đồng và nếu chúng ta dựa vào số liệu của IMF thì sang năm 2011 để mua được cùng cái giỏ đó thay vì 1 triệu chúng ta phải trả là 1,186,000đ để mua được một giỏ hàng tương tự ( XEM 4.1) :
Nghĩa là trong trường hợp này vật giá tăng khoảng 18% sau một năm và đó chính là tỉ lệ lạm phát thực tế của việt nam trong năm 2011, trong tiêng anh ngừoi ta gọi tỉ lệ lam phát một cách đầy đủ là INFLATION RATE:
Và bây giờ chúng ta nói đến CPI. Khác với lạm phát được tính bằng tỉ lệ phần trăm, CPI được tính dựa trên một con số, con số này gọi là index. Về cơ bản, thay vì tính theo tỉ lệ phần trăm thì CPI sẽ được tính theo điểm số.
Trong ví dụ này, chúng ta có CPI năm 2010 là 100, CPI năm 2011 là 118,68 và tiếp theo là: những con số 100 hay 118 này từ đâu ra? (Nó không phải là 100% hay 118%, vì như vậy là không đúng, do CPI không phải là phần trăm mà là một chỉ số).
Để hiểu con số 100 này từ đâu ra, chúng ta phải hiểu thêm một khái niệm nữa gọi là base year (năm cơ sở). – HÌNH 4
Năm cơ sở là năm mà chúng ta xét tới con số 100, trong trường hợp này là năm 2010. Khi nhìn sang năm 2011, tỉ lệ lạm phát là 18% so với năm cơ sở, cho nên ta có CPI là 118.
Tới lúc này, về cơ bản thì tỉ lệ lạm phát và chỉ số CPI có vẻ giống nhau. (HÌNH 4)
Nhưng khi nhìn tiếp sang năm 2012 thì chúng ta sẽ thấy sự khác nhau.
Bây giờ nhìn sang năm 2012, với cùng giỏ hàng mà chúng ta đã nói đến, chúng ta phải trả 1.294.000 đồng thì mới mua được giỏ hàng tương tự. Lúc đó, chỉ số CPI sẽ là 129 (cách tính đọc tiếp sẽ có)
Từ con số này, ta tính được tỉ lệ lạm phát năm 2012. Hầu hết chúng ta sẽ tính là 129 – 118 = 11%, và cho rằng 11% này là tỉ lệ lạm phát, nhưng cách tính đó không đúng. Thực ra phải khoảng 9% mới đúng.
Tại sao vậy? Vì trong đại đa số trường hợp, khi chúng ta nghe nhắc đến tỉ lệ lạm phát trên TV thì hầu hết nó được tính theo công thức: (giá trị của năm cần tính – giá trị của năm trước đó) / giá trị của năm trước đó. Chỉ trong những trường hợp đặc biệt, khi người ta muốn tính tỉ lệ lạm phát so với một năm cụ thể nào đó thì mới dùng cách khác.
Còn trong đa số trường hợp, khi nhắc đến tỉ lệ lạm phát thì chúng ta đều tính theo công thức vừa rồi. Ví dụ, khi các bạn nghe trên TV nói rằng tỉ lệ lạm phát năm nay là 4%, nghĩa là họ đang so sánh với năm liền trước đó.
Trong trường hợp này, đó là sự chênh lệch giá của năm 2012 so với năm 2011. Nghĩa là ta lấy giá trị giỏ hàng năm 2011 là 1.186.000 đồng và xem đó là 100%, thì sang năm 2012, giá trị này tăng thêm khoảng 9,1% so với năm 2011 để đạt mức 1.294.000 đồng. Đó mới là tỉ lệ lạm phát.
Còn chỉ số CPI mà IMF đang tính thì dựa trên base year (năm cơ sở) là năm 2010, cho nên CPI sẽ là 129,47.
Làm rõ hơn cho a/c chưa hiểu:
Tỉ lệ lạm phát:
Tỉ lệ lạm phát năm 2011 = 100.(năm 2011 – năm 2010)/năm 2010. Gán 2010 --> 100%
Tỉ lệ lạm phát 2012=100.(Giá năm 2012 – Giá năm 2011)/Giá năm 2011. Gán 2011 -->100%
Tỉ lệ lạm phát 2012:
gán 1,186,800—>100%
1,294,700—>X%
Nhân chéo: 1,294,700.100 =1,186,800.X=>X =100.(1,294,700)/1,186,800=109,1=> Tỉ lệ lạm phát = 109,1 – 100 = 9,1
Hay theo cách tính: Tỉ lệ lạm phát 2012=100.(Giá năm 2012 – Giá năm 2011)/Giá năm 2011.
Tỉ lệ lạm phát 2012 = (1,294,700-1,186,800)/1,186,800 = 9,1 %
Chỉ số CPI (IMF):
Lấy năm cơ sở (base year) là năm 2010 và quy ước năm 2010 = 100.
Công thức tính CPI:
CPI = (Mức giá năm cần tính / Mức giá năm cơ sở) × 100
Do đó:
CPI năm 2011
= (1,186,800 / 1,000,000) × 100
= 118,68
Nghĩa là mức giá năm 2011 bằng 118,68% so với năm 2010.
Tương tự:
CPI năm 2012
= (1,294,700 / 1,000,000) × 100
= 129,47
Bây giờ chúng ta bắt đầu nhìn sang cột của Tổng cục Thống kê Việt Nam. (HÌNH 3)
Tại sao lại có sự chênh lệch so với các con số của IMF? Lý do là bởi vì thay vì sử dụng base year cố định là năm 2010, trong khi thống kê cho cả giai đoạn từ 2010 đến 2020, thì Tổng cục Thống kê lại reset base year mỗi năm…
Nói cách khác, thay vì so sánh với năm CỐ ĐỊNH 2010, họ lấy giá trị của năm trước đó làm mốc. Nghĩa là cách tính CPI này gần tương đương với cách tính tỉ lệ lạm phát hàng năm. Đó là lý do vì sao chúng ta thấy báo cáo CPI của Việt Nam thấp hơn báo cáo của IMF dù đều đang thống kê cho cùng một giai đoạn.
Do vậy, ở góc độ người xem, chúng ta phải có đủ kiến thức để hiểu những gì mình đang nghe hoặc đang xem trên báo đài. Và đó là chỉ số CPI trong 10 năm qua: một cột là theo IMF, còn một cột là theo Tổng cục Thống kê Việt Nam. (HÌNH 3)
Còn đây là tỉ lệ lạm phát của việt nam mình từ 2010-2020 (HÌNH 4):
Từ con số này chúng ta có thể tính ra tỉ lệ lạm phát trung bình trong 10 năm qua ở việt nam là khoảng 5,7% và đây cũng là tiền đề cho một số ý tiếp theo.
Nói một cách đơn giản thì tỉ lệ lạm phát trong 10 năm qua là 5,7% là xong
Sở dĩ chúng ta nói một loạt về CPI và lạm phát là để chúng ta hiểu rõ hơn chủ đề rất là quan trọng. Vì mục tiêu là thông qua chủ đề về chứng khoán để chúng ta học thêm thật nhiều kiến thức có thể, và những kiến thức nền rất là quan trọng.
Bây giờ chúng ta quay lại con số 5,7%, đây là tỉ lệ lạm phát trung bình trong 10 năm qua.
Bây giờ chúng ta thử nhìn qua một số nước khác:
– Đầu tiên là ở Úc, theo báo cáo tỉ lệ lạm phát trung bình 20 năm qua đâu đó khoảng 2,7%
– Ở Mỹ có thống kê 100 năm gần đây tỉ lệ lạm phát là 3,15% và tương tự như vậy
– Tỉ lệ lạm phát ở Anh 30 năm qua là 2,5%
(Xem hình 5)
Nhìn vào con số này thì ta thấy đâu đó con số trung bình của lạm phát hàng năm sẽ rơi vào 3-4%, và nghe 3-4% thì có vẻ là không nhiều lắm tuy nhiên tỉ lệ tăng của lạm phát là tỉ lệ tăng compoud (là kiểu tăng cộng dồn) và nếu chúng ta cộng dồn năm này qua năm kia thì nó sẽ ra một con số rất là khủng khiếp:
Chúng ta sẽ lấy con số lạm phát là 4% để làm một bài tính như vầy:
Ví dụ như một a.c nào đấy đang 30 tuổi và a.c ấy cần đâu đấy 20tr để lo cho nhu cầu tối thiểu cho gia đình thì tới năm a.c 60 tuổi để có thể lo cho nhu cầu tối thiểu đó các a.c phải cần tới 65tr (XEM HÌNH 6)
Mà ở đây chúng ta đang nói trong một môi trường khá là lành mạnh, còn nếu mà lỡ bất trắc gì đó mà tỉ lệ lạm phát tăng cao hơn thì nó còn nguy hiểm hơn rất là nhiều, giả sử cần nâng tỉ lệ lạm phát từ 4% lên 6% mỗi năm thì cùng với vd tương tự như vầy để lo cho nhu cầu tối thiểu của gia đình thì ngừoi đó tới năm 60 tuổi họ phải cần tới 115tr mỗi tháng (XEM HÌNH 6):
Công thức tính lạm phát cộng dồn (compound inflation) là:
FV=PV×(1+r)^n
Trong đó:
FV = giá trị tương lai sau lạm phát
PV = giá trị ban đầu
r = tỉ lệ lạm phát hàng năm
n = số năm
1+r)^n hiệu ứng lãi kép / cộng dồn
Ví dụ với lạm phát trung bình 4%/năm:
FV=20,000,000×(1+0.04)^30
Kết quả:
FV≈64,867,950
Tức là:
Một món hàng giá 20 triệu năm 2020
Nếu lạm phát trung bình 4%/năm
Thì đến năm 2050 sẽ có giá khoảng 64,8 triệu đồng
Nếu lạm phát là 6%/năm:
FV=20,000,000×(1+0.06)^30
Kết quả:
FV≈114,869,823
Tới đây thì chúng ta thấy khá rõ là nếu chúng ta chỉ tích luỹ mà không đầu tư thì nó là một điều rất là nguy hiểm mà chúng ta đang làm với tài sản của mình đó là trường hợp tích luỹ mà hoàn toàn không đầu tư gì.
Bây giờ chúng ta nhìn đến cách thứ hai mà rất nhiều người thường làm (XEM HÌNH 7), đó là gửi tiết kiệm. Nghe qua thì đây có vẻ là một lựa chọn hợp lý và an toàn. Tuy nhiên nếu đào sâu xuống một chút thì chúng ta sẽ thấy vấn đề không đơn giản như vậy.
Bây giờ chúng ta sẽ phân tích xem tại sao.
Trước tiên hãy nhìn vào các nước phát triển trên thế giới.
Ví dụ như ở Úc, trong suốt khoảng 20 năm qua, tỉ lệ lạm phát trung bình rơi vào khoảng 2,7% mỗi năm. Trong khi đó, ở giai đoạn lãi suất thấp sau đại dịch COVID-19, có thời điểm lãi suất tiền gửi tốt nhất mà người dân có thể tìm được chỉ khoảng 0,95%/năm.
Điều này có thể khiến nhiều người Việt Nam bất ngờ, bởi vì ở Việt Nam chúng ta thường quen với mức lãi suất khoảng 5–6% mỗi năm. Nhưng lát nữa chúng ta sẽ quay lại trường hợp của Việt Nam sau.
Bây giờ chúng ta lấy lãi suất tiết kiệm 0,95% đó so sánh với mức lạm phát trung bình 2,7% của Úc:
0.95%-2.7%= -1.75%
Điều đó có nghĩa là mặc dù tiền trong tài khoản ngân hàng vẫn tăng lên về mặt con số, nhưng sức mua thực tế của đồng tiền lại đang giảm khoảng 1,75% mỗi năm. Nói cách khác, tài sản của chúng ta vẫn đang âm dần theo thời gian nếu chỉ để trong tiết kiệm.
Tuy nhiên sau giai đoạn đó, khi lạm phát bùng nổ trên toàn cầu, các ngân hàng trung ương bắt đầu nâng lãi suất để chống lạm phát. Đến cuối năm 2023, lãi suất tiết kiệm tốt nhất tại Úc đã tăng lên khoảng 5%/năm.
Nghe qua thì có vẻ tốt hơn rất nhiều. Nhưng vấn đề là cùng thời điểm đó, lạm phát của Úc cũng đang ở khoảng 5,4%.
Khi lấy lãi suất tiết kiệm trừ đi lạm phát thì kết quả vẫn là số âm: 5%- 5.4% = – 0.4%
Điều này đồng nghĩa với việc dù người gửi tiền nhìn thấy số dư tài khoản của mình tăng lên, nhưng sức mua thực tế của số tiền đó gần như không tăng, thậm chí còn giảm nhẹ.
Đây chính là vấn đề lớn của việc chỉ gửi tiết kiệm trong dài hạn: nó giúp bảo toàn tài sản tốt hơn so với giữ tiền mặt, nhưng rất khó giúp tài sản tăng trưởng đủ mạnh để vượt qua lạm phát và chi phí sống ngày càng tăng của nền kinh tế.
Nghĩa là nếu chúng ta để tiền vào ngân hàng ở thời điểm mà lãi xuất đang cao ở hiện tại ở Úc thì mỗi năm giá trị tiền của chúng ta vẫn đều đặn mất đi 0,4%. Một lần nữa thoạt nghe qua thì con số này không có đáng, nhưng mà nếu chúng ta cộng dồn theo kiểu compoud thì qua thời gian nó sẽ ăn mòn vào tài sản chúng ta rất nhiều.
Và đến năm 2025, tình hình tại Úc đã có cải thiện hơn so với giai đoạn lạm phát bùng nổ trước đó. Sau nhiều lần tăng lãi suất, lạm phát của Úc đã giảm dần về quanh mức khoảng 2,5–3,2%, tiến gần mục tiêu của Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA). Trong khi đó, các tài khoản tiết kiệm lãi suất cao tại Úc hiện có thể trả khoảng 4,5–5%/năm.
Nếu lấy mức lãi suất tiết kiệm khoảng 4,75% và so với mức lạm phát khoảng 3%, thì lần đầu tiên sau nhiều năm, người gửi tiết kiệm mới bắt đầu có lợi nhuận thực dương:
4.75% – 3% = 1.75%
Điều này có nghĩa là tiền gửi ngân hàng cuối cùng cũng bắt đầu vượt được lạm phát thay vì liên tục bị âm như giai đoạn 2021-2023.
Tuy nhiên, vấn đề là mức chênh lệch thực tế vẫn không quá lớn. Sau khi trừ thuế, chi phí sinh hoạt tăng nhanh và các loại tài sản khác như bất động sản hoặc cổ phiếu tiếp tục tăng giá trong dài hạn, thì lợi nhuận thực mà người gửi tiết kiệm giữ lại vẫn khá hạn chế.
Bây giờ chúng ta nhìn sang thị trường Việt Nam. (XEM HÌNH 7)
Hiện nay lãi suất tiền gửi tại Việt Nam phổ biến đâu đó khoảng 5-6% mỗi năm đối với kỳ hạn dài. Chúng ta cứ tạm lấy mức 6% để làm ví dụ. Trong khi đó, như lúc nãy chúng ta vừa nhìn vào dữ liệu lạm phát của Việt Nam trong khoảng hơn 10 năm qua, thì lạm phát trung bình rơi vào khoảng 5,7% mỗi năm.
Nếu lấy hai con số này so sánh với nhau thì có vẻ như chúng ta đang có lợi nhuận thực dương:
6% – 5.7% = 0.3%
Tức là về lý thuyết, sau khi trừ lạm phát thì tài sản của chúng ta vẫn tăng khoảng 0,3% mỗi năm. Con số này tuy rất nhỏ, nhưng ít nhất nó vẫn là dương chứ không âm như trường hợp của Úc trong nhiều giai đoạn trước đó.
Tuy nhiên, ở Việt Nam còn tồn tại thêm một vấn đề khác, đó là sự mất giá của đồng Việt Nam so với các đồng tiền mạnh trên thế giới, đặc biệt là đồng đô la Mỹ.
Ví dụ, vào khoảng năm 1996, chỉ cần khoảng 11.000 đồng là có thể đổi được 1 USD. Nhưng hiện nay, để đổi được 1 USD thì cần khoảng hơn 25.000 đồng. Điều đó có nghĩa là trong gần 30 năm qua, đồng Việt Nam đã mất giá rất mạnh so với đô la Mỹ.
https://tradingeconomics.com/vietnam/currency
Mà đô la Mỹ thường được xem như đồng tiền dự trữ quốc tế và là đơn vị tham chiếu cho rất nhiều loại tài sản toàn cầu. Điều này dẫn tới một vấn đề quan trọng: ngoài việc tài sản bị bào mòn bởi lạm phát trong nước, sức mua quốc tế của chúng ta còn tiếp tục giảm thêm do đồng Việt Nam mất giá theo thời gian.
Lấy một ví dụ đơn giản: giả sử sau khi nghỉ hưu, chúng ta muốn mua một căn nhà ở Mỹ hoặc ở một quốc gia khác. Khi đó, tài sản của chúng ta không chỉ bị ảnh hưởng bởi lạm phát, mà còn bị tác động thêm bởi việc đồng Việt Nam yếu đi so với đô la Mỹ.
Vậy chúng ta có thể khắc phục bằng cách gửi tiết kiệm bằng USD hay không? (HÌNH 7)
Trên thực tế, đây cũng chính là lý do tại sao phần lớn các ngân hàng tại Việt Nam hiện nay gần như áp dụng lãi suất 0% đối với tiền gửi USD. Tức là ngân hàng không muốn khuyến khích người dân nắm giữ ngoại tệ thay vì đồng Việt Nam.
Điều đó có nghĩa là nếu chúng ta gửi tiết kiệm bằng USD thì lợi nhuận danh nghĩa gần như bằng 0%. Tuy nhiên đổi lại, chúng ta không còn phải đối mặt với lạm phát của Việt Nam nữa, mà thay vào đó là lạm phát của Mỹ – trung bình khoảng hơn 3% mỗi năm trong dài hạn.
Khi lấy hai con số này so sánh:
0% – 3.15%= -3.15%
Điều đó có nghĩa là nếu chỉ nắm giữ USD mà không đầu tư gì thêm, thì sức mua thực tế của tài sản vẫn giảm khoảng 3,15% mỗi năm do lạm phát của chính nước Mỹ.
Và đây chính là điểm cốt lõi: dù chúng ta giữ tiền bằng VND hay USD, nếu chỉ tích luỹ hoặc gửi tiết kiệm mà không đầu tư vào các tài sản có khả năng tăng trưởng cao hơn lạm phát trong dài hạn, thì giá trị thực của tài sản vẫn sẽ bị bào mòn theo thời gian.
Bây giờ chúng ta sẽ làm một bài tính đảo ngược. (HÌNH 8)
Giả sử vật giá không thay đổi, nhưng giá trị của đồng tiền lại thay đổi. Năm 2020, chúng ta có một lượng tiền tương đương 1 tỷ đồng. Vậy sau 40 năm, tức tới năm 2060, chúng ta sẽ còn lại bao nhiêu giá trị thực tế? Câu trả lời là chưa tới 278 triệu đồng (Tính theo công thức như trên thôi).
Chúng ta thấy con số này thật sự rất khủng khiếp đúng không?
Qua đó, chúng ta cũng thấy tác động cực kỳ lớn của lạm phát lên khía cạnh tài chính cá nhân. Và đây cũng chính là động lực khiến chúng ta phải bắt đầu hoạt động đầu tư, bởi vì đây không còn là việc chúng ta muốn hay không muốn làm nữa, mà gần như là việc bắt buộc phải làm nếu muốn bảo vệ tài sản của mình trong dài hạn.
Tương tự như vậy, nếu chúng ta chỉ trông chờ vào lương hưu mà không bắt đầu tích luỹ từ hôm nay thì điều đó sẽ rất nguy hiểm cho tương lai tuổi già của chúng ta.
Và cũng như thế, nếu chúng ta chỉ tích luỹ mà không đầu tư – hoặc thậm chí có đầu tư nhưng chỉ dừng lại ở gửi tiết kiệm – thì tài sản của chúng ta vẫn sẽ đi lùi trong dài hạn do không theo kịp tốc độ mất giá của đồng tiền và lạm phát của nền kinh tế.
Bài viết được trích xuất và lưu trữ từ trang chính thức CMB Investing – Cố Vấn Đầu Tư VPS. Xem bài viết gốc trên Facebook ↗
Mỗi ấn phẩm Tạp Chí CMB được chắt lọc từ những chiêm nghiệm sống và phân tích đầu tư thực chiến, nhằm đồng hành cùng các anh chị trên con đường tự do tài chính.