SERIES ĐỌC VỊ VĨ MÔ TRONG PHÂN TÍCH – VÀNG – CHỨNG KHOÁN – BĐS
Phần 2: Chính sách tiền tệ - tài khoá và kết hợp tiền tệ…
DỰ PHÓNG GDP – CPI CÓ HƯỚNG DẪN
Vẫn câu nói quen thuộc: " muốn giải quyết vấn đề phải giải quyết nguồn gốc từ đâu nó hình thành và phát sinh"
Nguồn gốc của vấn đề:
NỀN KINH TẾ → GDP & CPI → CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ → LÃI SUẤT → THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Thị trường tài chính = tiền gửi, vàng, BĐS, cổ phiếu, trái phiếu.
P/s: đọc đến đâu xem hình đến đấy, bài này mình viết mất khoảng 2 tuần, nếu a/c thấy hay ủng hộ = 1like và 1 follow nhé, alway less than three < 3
Nếu có câu hỏi trao đổi thêm: Zalo 0962721995 – Vin Mac
File bài tập:
CPI: https://drive.google.com/drive/u/0/folders/1VAwLbpLXKEzp6gOapZM2ImYM5q4x7RaD
GDP: https://drive.google.com/drive/u/0/folders/1cJitGF76kG4eZyqReXBx4La3KQgIf5lU
Rồi, trước tiên tôi đi vào:
Kịch bản thị trường tài chính cho mọi người hiểu toàn bộ khung trước:
Thị trường tài chính là gì?
Chúng ta phải biết thị trường tài chính là gì thì chúng ta mới có thể xây dựng được kịch bản của thị trường tài chính.
Câu hỏi rất đơn giản: THỊ TRƯỜNG, rồi lại còn TÀI CHÍNH, rồi lại còn KỊCH BẢN là gì?
Rồi, thực chất thị trường tài chính bao gồm hai cấu phần lớn:
– Thị trường tiền tệ
– Thị trường vốn
Đây là hai thị trường có nhiệm vụ cung cấp vốn cho nền kinh tế.
Như vậy, nếu chúng ta muốn nhìn vào kịch bản của thị trường tài chính Việt Nam, tức là chúng ta muốn đầu tư tại Việt Nam, thì chúng ta có cần xem nền kinh tế Việt Nam vận động như thế nào không?
Rồi, chắc chắn là phải xem. Muốn hiểu thị trường tài chính thì trước tiên phải hiểu nền kinh tế đang vận động ra sao.
Bây giờ tôi sẽ giải quyết cho các bạn bài toán: NỀN KINH TẾ LÀ GÌ?
Ở đây tôi sẽ vẽ cho mọi người một nền kinh tế. Trong một quốc gia, chúng ta sẽ có những nguồn lực cơ bản như:
– Đất đai
– Lao động
– Tài nguyên thiên nhiên
– Và các nguồn lực khác
Được không ạ?
Nếu chúng ta có một quốc gia như thế này, thì câu hỏi đặt ra là: có những chủ thể nào tham gia vào nền kinh tế và thị trường tài chính?
Tôi sẽ đi khá nhanh phần này, nên một số bạn có thể xem lại các bài viết trước. Đây là những kiến thức rất cơ bản của kinh tế vĩ mô.
Như vậy chúng ta nhìn vào thị trường tài chính thì chúng ta phải nhìn vào NỀN KINH TẾ và chúng ta sẽ nhìn tương tác của các chủ thể sau:
– Thứ nhất là HỘ GIA ĐÌNH.
– Thứ hai là CHÍNH PHỦ.
– Và thứ ba là DOANH NGHIỆP.
Và họ sẽ tương tác với nhau thì chúng ta sẽ nhìn thấy một thị trường rất là lớn ở đây.
Bây giờ tôi ưu tiên thị trường tài chính nên tôi sẽ để THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH vào giữa.
Nào, cái dòng luân chuyển ở trong một NỀN KINH TẾ đó là:
Chúng ta sẽ có HỘ GIA ĐÌNH, đi làm. Tôi sẽ đặt số La Mã (I) là THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG. Nó có một phần rất quan trọng, đó là năng lực tích luỹ của chúng ta hàng tháng để chúng ta đi đầu tư. Năng lực đó đến từ tiền lương, rồi các khoản thu nhập của chúng ta, và tất cả đều đến từ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG. Thị trường lao động mà tốt, chúng ta có nhiều tiền thì chúng ta đầu tư được nhiều hơn.
Và DOANH NGHIỆP thì chúng ta thấy ở đây, họ sẽ bán hàng ra thị trường: Tôi sẽ đặt số La Mã (II) ở đây, đó là THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ (hàng hoá và dịch vụ vì chúng ta cũng có rất nhiều loại dịch vụ).
Tất nhiên, HỘ GIA ĐÌNH mà có tiền thì họ đến THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ để mua sắm và chi tiêu. Khi đó tiền sẽ chảy từ HỘ GIA ĐÌNH sang DOANH NGHIỆP.
Và bây giờ chúng ta đến với số La Mã (III), đây chính là THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH.
Tất nhiên thì HỘ GIA ĐÌNH mà có tiền thì họ đến đây (THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ), họ mua đồ và họ trả tiền vào đây.
Và chúng ta sẽ thấy kịch bản thị trường tài chính, cái số La Mã (III), đây là THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH.
Cho tôi hỏi đầu vào của THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH đến từ đâu mọi người?
Đầu vào của THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH có thể đến từ HỘ GIA ĐÌNH. HỘ GIA ĐÌNH sau khi tham gia THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG, có thu nhập rồi, tiêu dùng HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ rồi, nếu còn thừa tiền thì họ sẽ mang tiền đó gửi vào NGÂN HÀNG hoặc đưa vào THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH.
Sau đó THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH sẽ luân chuyển nguồn vốn này đến những người đang cần vốn, ở đây chính là DOANH NGHIỆP.
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH thì chúng ta sẽ biết có HAI thị trường lớn:
(Cái lớp tài sản đầu tiên của mọi người thường là tiền gửi ngân hàng hoặc các tài sản có lợi tức cố định. Thế thì khi mọi người gửi ngân hàng, mọi người thường gửi dưới 1 năm hay trên 1 năm? Thông thường là dưới 1 năm đúng không ạ.)
Ở đây chúng ta sẽ có THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ (thông thường là các khoản có kỳ hạn dưới 1 năm).
Ở đây chúng ta có hai chủ thể quan trọng:
– Một là NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC.
– Hai là các NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC sẽ tác động đến thị trường này (NHTM) thông qua các công cụ điều hành như lãi suất, cung tiền, dự trữ bắt buộc… Tôi sẽ ký hiệu phần này là 3.1.
Rồi, 3.2 ở đây là thị trường gì ạ?
Đó là THỊ TRƯỜNG VỐN.
Rất đơn giản thôi. Nếu tất cả mọi người chỉ gửi tiền dưới 1 năm thì những DOANH NGHIỆP đang cần vốn 5 năm, 10 năm hay thậm chí 20 năm sẽ huy động vốn thông qua thị trường nào?
Đó chính là THỊ TRƯỜNG VỐN (3.2).
Ở đây chúng ta sẽ có:
– TRÁI PHIẾU (thị trường trái phiếu) – 3.2.1
– THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU – 3.2.2
Rồi, cho tôi hỏi mọi người rằng như vậy chúng ta sẽ thấy kịch bản của THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH là gì?
Có nghĩa là gần như toàn bộ các tác động lớn đến tài sản của chúng ta đều sẽ đi qua THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH.
Và đa phần tài sản đầu tư của chúng ta cũng nằm ở đây, từ tiền gửi, trái phiếu cho đến cổ phiếu.
Nói cách khác, muốn hiểu tài sản của mình sẽ tăng hay giảm như thế nào thì chúng ta phải hiểu được THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH đang vận động ra sao.
Rồi, THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ thì ngoài hàng hoá tiêu dùng thông thường, chúng ta cũng có thể xếp những tài sản như BẤT ĐỘNG SẢN hoặc VÀNG vào đây.
Như vậy chúng ta sẽ phải nhìn cả hai thị trường và MỐI TƯƠNG TÁC giữa hai thị trường này với nhau.
Rồi, cho mình hỏi, VIỆT NAM có phải là một nền kinh tế đóng không ạ?
Tất nhiên là không. Chúng ta là MỘT NỀN KINH TẾ MỞ.
Điều đó có nghĩa là chúng ta sẽ tương tác với THẾ GIỚI.
Ở đây tôi gọi đơn giản là THẾ GIỚI.
THẾ GIỚI cũng có THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG, THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH và THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ.
Và các thị trường này sẽ tác động tới chúng ta thông qua nhiều kênh khác nhau.
Đầu tiên là THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ.
Ở đây chính là XUẤT KHẨU và NHẬP KHẨU đúng không ạ.
Tiếp theo là THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH.
Ở đây chúng ta có FDI và FII.
– FII sẽ đi vào THỊ TRƯỜNG VỐN, tức là cổ phiếu và trái phiếu.
– Còn FDI thì đi trực tiếp vào DOANH NGHIỆP, nhà máy, khu công nghiệp và các dự án sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, chúng ta còn có sự dịch chuyển giữa THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG của Việt Nam và thế giới.
Ví dụ như KIỀU HỐI, lao động làm việc ở nước ngoài gửi tiền về cho gia đình hoặc các khoản chuyển tiền một chiều từ nước ngoài về Việt Nam.
Như vậy chúng ta sẽ thấy rằng giữa Việt Nam và thế giới tồn tại rất nhiều dòng chảy:
– Dòng chảy hàng hoá.
– Dòng chảy vốn.
– Dòng chảy lao động.
– Dòng chảy tiền tệ.
Và tất cả những dòng chảy này cuối cùng đều gặp nhau ở một biến số cực kỳ quan trọng.
Gần đây là một chủ đề rất nóng mà chắc mọi người đều nghe nhắc tới rất nhiều.
Đó chính là TỶ GIÁ.
Bởi vì khi hàng hoá đi qua biên giới, khi dòng vốn FDI và FII đi qua biên giới, khi kiều hối được chuyển về Việt Nam thì tất cả đều liên quan trực tiếp đến cung và cầu ngoại tệ.
Và khi cung cầu ngoại tệ thay đổi thì TỶ GIÁ sẽ thay đổi.
Do đó, muốn hiểu được thị trường tài chính Việt Nam thì chúng ta không chỉ nhìn bên trong nền kinh tế Việt Nam mà còn phải nhìn xem THẾ GIỚI đang vận động như thế nào và dòng vốn quốc tế đang dịch chuyển ra sao.
Rồi như vậy nếu như tôi mà đi đầu tư thì tôi sẽ nhìn thấy rằng, à có nhiều vấn đề tôi cần phải quan tâm quá. Và như vậy ở đây tôi muốn hỏi mọi người, rồi cái THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ này (II) có nghĩa rằng là nó sẽ đáp ứng nhu cầu của HỘ GIA ĐÌNH là C này, DOANH NGHIỆP thì là I này, còn CHÍNH PHỦ thì là G.
Như vậy tôi có thể viết là C + I + G + Với cả nhu cầu của nước ngoài là NX (= Xuất khẩu – Nhập khẩu = Exports – Imports).
Tôi có thể viết rằng TỔNG NHU CẦU HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ CỦA VIỆT NAM được biểu diễn bằng công thức này, và nó chính là GDP theo phương pháp chi tiêu:
GDP = C + I + G + NX
Hay nói cách khác, GDP chính là tổng nhu cầu cuối cùng đối với hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế.
Vì vậy, khi chúng ta nhìn vào THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ thì thực chất là chúng ta đang nhìn vào một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định tăng trưởng GDP của Việt Nam.
Trong đó:
– C là tiêu dùng của hộ gia đình (Consumption).
– I là đầu tư của doanh nghiệp (Investment).
– G là chi tiêu của Chính phủ (Government Spending).
– NX là xuất khẩu ròng (Net Export = Xuất khẩu – Nhập khẩu).
Đây chính là công thức GDP mà chúng ta đã học.
Bây giờ câu hỏi của tôi là:
Nếu THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ tăng trưởng thì THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH đi xuống hay đi lên?
Thông thường là đi lên đúng không ạ.
Tại vì chúng ta nhìn mô hình rất đơn giản.
Thị trường hàng hoá và dịch vụ tăng trưởng có nghĩa là doanh nghiệp phát triển. Mà doanh nghiệp phát triển thì lợi nhuận tăng lên. Khi lợi nhuận tăng lên thì về dài hạn giá trị của doanh nghiệp cũng tăng lên. Mà cổ phiếu và trái phiếu đều gắn với giá trị của doanh nghiệp, cho nên thông thường thị trường tài chính cũng sẽ được hưởng lợi.
Rồi, thế nếu như tăng trưởng tất cả nhưng giá của hàng hoá lại tăng lên thì sao?
Chúng ta dùng một thuật ngữ là CPI đúng không mọi người.
Nếu CPI tăng cao thì kịch bản của thị trường tài chính sẽ như thế nào?
Rồi, chúng ta sẽ biết rằng thông thường đó không phải là điều tốt.
Vì sao?
Chúng ta nhìn lại mô hình.
Khi giá hàng hoá tăng quá nhanh thì người lao động sẽ phải dùng nhiều tiền hơn cho chi tiêu hằng ngày. Khi đó phần tiền còn lại để tiết kiệm và đầu tư sẽ ít đi. Đồng thời chi phí đầu vào của doanh nghiệp cũng tăng lên, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Do đó nếu lạm phát tăng quá cao thì nó sẽ tạo áp lực lên thị trường tài chính.
Như vậy chúng ta sẽ nhìn thấy các yếu tố rất quan trọng của nền kinh tế như GDP, CPI, thu nhập của người dân, đầu tư của doanh nghiệp hay chi tiêu của Chính phủ đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến thị trường tài chính.
Và ở đây tôi chỉ muốn nói đến thị trường tài chính thôi.
Thế bây giờ GDP mà giảm thì Chính phủ có những công cụ nào để tác động?
Một là Chính phủ có thể tác động vào THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ này (III).
Mọi người có biết đó là chính sách gì không ạ?
Làm sao để cho lãi suất hạ xuống đúng không ạ?
Đó chính là CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ.
Còn nếu Chính phủ nói rằng: "Các bạn phải tăng nhu cầu chi tiêu lên", tức là tôi sẽ tác động vào G, tăng chi tiêu của Chính phủ; hoặc tôi giảm thuế để người dân tăng C; hoặc tạo điều kiện để doanh nghiệp tăng I.
Thì đó chính là CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ.
Nếu bạn chưa hiểu thì hãy đọc lại các bài trước, bởi vì toàn bộ phần này chúng ta đã đi rất kỹ rồi.
Rồi, bây giờ chúng ta sẽ nhìn thấy rằng XÂY KỊCH BẢN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH có phức tạp không ạ?
Và chúng ta nên xây kịch bản cho cái gì trước?
Có phải là chúng ta phải xây kịch bản cho cả NỀN KINH TẾ trước không?
Bởi vì THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH nằm bên trong NỀN KINH TẾ, cho nên trước tiên chúng ta phải xây được kịch bản của NỀN KINH TẾ, sau đó mới suy ra được kịch bản tác động của NỀN KINH TẾ đến THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH.
Nếu tôi nhìn thấy toàn bộ bức tranh của NỀN KINH TẾ VIỆT NAM:
– GDP tăng trưởng tốt.
– Lạm phát được kiểm soát ở mức thấp hoặc trong mục tiêu.
– Chính sách tiền tệ đang hỗ trợ tăng trưởng.
Thì lúc đó thị trường tài chính thường sẽ có môi trường rất thuận lợi.
Bây giờ quay lại bài toán xây kịch bản cho THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH.
GDP năm 2026 có khả năng đạt mục tiêu hay không?
Lạm phát có còn nằm trong vùng mục tiêu hay không?
Đó mới là những câu hỏi quan trọng.
Rồi bây giờ cái gốc của vấn đề sẽ nằm ở đây:
Đầu tiên chúng ta phải nhìn vào NỀN KINH TẾ, cụ thể là hai biến số quan trọng nhất:
– GDP.
– CPI.
Từ GDP và CPI, chúng ta sẽ suy ra được CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ và CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ.
Sau đó chính CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ và CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ sẽ tác động đến lãi suất, cung tiền, tín dụng và dòng vốn trong nền kinh tế.
Từ đó chúng ta sẽ dự báo được xu hướng của LÃI SUẤT.
Và cuối cùng, từ kịch bản LÃI SUẤT, chúng ta sẽ xây dựng được kịch bản cho THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH.
Cho nên khi phân tích thị trường tài chính, chúng ta không bắt đầu từ cổ phiếu hay trái phiếu.
Chúng ta bắt đầu từ NỀN KINH TẾ.
NỀN KINH TẾ → GDP & CPI → CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ → LÃI SUẤT → THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH.
Đó chính là chuỗi tư duy mà chúng ta sẽ sử dụng xuyên suốt để xây dựng các kịch bản đầu tư.
Rồi giả sử như tôi coi ở đây: tất cả các biến số của thế giới – rất là xa, tôi đặt là A. Và biến số thứ hai là các BIẾN SỐ VĨ MÔ của Việt Nam, tôi đặt là B. Còn các biến số tác động trực tiếp vào THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH là C (CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ và CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ).
Theo bạn thì biến số nào là biến số quan trọng nhất để chúng ta phải theo dõi hằng ngày? Biến số nào sẽ tác động mạnh mẽ nhất?
Như vậy, nếu chúng ta muốn xây dựng một kịch bản thì đầu tiên phải xây dựng KỊCH BẢN CỦA NỀN KINH TẾ. Muốn làm được điều đó, chúng ta phải xem cả những yếu tố ở xa là A, những yếu tố mang tính chất QUỐC GIA CỦA VIỆT NAM là B, và những yếu tố TÁC ĐỘNG TRỰC TIẾP ĐẾN THỊ TRƯỜNG là C.
Nếu chúng ta nhìn vào một thị trường cụ thể, ví dụ như BẤT ĐỘNG SẢN, thì chúng ta cũng phải xem các yếu tố nào đang tác động trực tiếp đến thị trường đó.
Thì bây giờ tôi sẽ viết lại, chúng ta sẽ có ba loại biến số:
– BIẾN SỐ CẤP 1: Là những biến số tác động trực tiếp đến THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH.
– BIẾN SỐ CẤP 2: Là những biến số tác động đến CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ.
– BIẾN SỐ CẤP 3: Là những biến số QUỐC TẾ.
Chúng ta có bỏ được biến số nào không các bạn?
Hay là khi xây dựng kịch bản chúng ta sẽ phải xem xét cả ba?
Câu trả lời là không bỏ được.
Chúng ta chỉ có thể phân loại chúng thành những biến số gần và những biến số xa mà thôi.
Ví dụ như yếu tố địa chính trị: chiến tranh Nga – Ukraine. Nhiều người sẽ nghĩ rằng chiến tranh Nga – Ukraine thì liên quan gì đến thị trường Việt Nam hoặc giá bất động sản tại Việt Nam.
Nhưng thực tế lại không phải như vậy.
Rất đơn giản thôi.
Những biến số quốc tế sẽ tác động đến giá dầu và lạm phát toàn cầu, đặc biệt là lạm phát ở Mỹ.
Lạm phát ở Mỹ lại tác động đến chính sách của FED.
Chính sách của FED lại tác động đến tỷ giá.
Tỷ giá lại tác động đến lạm phát của Việt Nam.
Lạm phát của Việt Nam lại tác động đến chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá.
Và cuối cùng, tất cả những yếu tố đó sẽ tác động đến THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH.
Như vậy chúng ta sẽ thấy rằng, mặc dù có những biến số nằm rất xa, nhưng thông qua một chuỗi tác động liên hoàn, cuối cùng nó vẫn ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường mà chúng ta đang đầu tư.
Và như vậy thì chúng ta phải chia sẻ với nhau rằng, khi xây dựng một kịch bản đầu tư, chúng ta phải xây dựng một hệ thống biến số gồm ba lớp.
Ba lớp đó sẽ được xây dựng theo thứ tự:
QUỐC TẾ → VIỆT NAM → THỊ TRƯỜNG
Hay nói cách khác:
– Lớp thứ nhất là các biến số QUỐC TẾ.
– Lớp thứ hai là các biến số VĨ MÔ của Việt Nam.
– Lớp thứ ba là các biến số tác động TRỰC TIẾP đến thị trường.
Và khi phân tích, chúng ta sẽ đi từ những yếu tố ở xa nhất, sau đó đến những yếu tố của Việt Nam, và cuối cùng là những biến số tác động trực tiếp đến thị trường tài chính.
Nếu làm được như vậy thì chúng ta sẽ không chỉ biết thị trường đang tăng hay giảm, mà còn hiểu được nguyên nhân sâu xa đằng sau sự tăng giảm đó.
Nhưng mà chúng ta sẽ cùng đồng ý với nhau rằng với mỗi biến số này, mỗi khi có một sự kiện xảy ra thì chúng ta sẽ gặp một vấn đề như sau.
Tôi hay lấy một hình tượng rất đơn giản:
Giả sử đây là một buổi chiều.
Buổi chiều tự nhiên tôi thấy mình hắt hơi, sổ mũi. Thì cho tôi hỏi mọi người, lúc đó có chắc chắn là tôi bị ốm chưa?
Chưa biết đúng không ạ.
Và trên thị trường tài chính cũng như vậy. Khi một vài tín hiệu xuất hiện thì chưa chắc thị trường đã thực sự có vấn đề, nhưng nó có thể là dấu hiệu báo trước.
Và như vậy người ta gọi đó là những CHỈ SỐ DẪN DẮT.
CHỈ SỐ DẪN DẮT là gì?
Đó là những chỉ số giúp chúng ta nhìn thấy xu hướng trong tương lai.
Trong kinh tế vĩ mô, nó giúp chúng ta dự báo xu hướng của nền kinh tế.
Còn trong đầu tư, nó giúp chúng ta dự báo xu hướng của thị trường tài chính.
Các bạn hãy dừng lại một chút và thử liệt kê một vài chỉ số dẫn dắt mà chúng ta đã học.
Ví dụ:
– LÃI SUẤT LIÊN NGÂN HÀNG (đặc biệt là lãi suất qua đêm – Overnight Rate)
– DXY (Chỉ số sức mạnh đồng USD)
– PMI (Chỉ số nhà quản trị mua hàng)
– Lợi suất trái phiếu chính phủ (Bond Yield)
– Chênh lệch lợi suất trái phiếu (Yield Spread)
Đây là những chỉ số thường thay đổi trước khi nền kinh tế hoặc thị trường tài chính thay đổi.
Đến buổi tối, tôi cặp nhiệt độ thì thấy sốt 40 độ.
Lúc này tôi biết rằng cơ thể mình thực sự đang có vấn đề.
Nhưng tôi vẫn chưa biết chính xác nguyên nhân là gì và cũng chưa thể uống thuốc một cách linh tinh được.
Đây giống như các CHỈ SỐ HIỆN HÀNH.
Tức là những chỉ số phản ánh tình trạng hiện tại của nền kinh tế.
Ví dụ:
– IIP (Chỉ số sản xuất công nghiệp)
– Doanh số bán lẻ
– Sản lượng sản xuất
– Việc làm
– Thu nhập của người dân
Những chỉ số này cho chúng ta biết nền kinh tế đang như thế nào ở thời điểm hiện tại.
Rồi sáng hôm sau tôi đi khám bác sĩ.
Sau khi xét nghiệm và có kết quả, bác sĩ xác nhận rằng tôi thực sự bị bệnh.
Đây chính là CHỈ SỐ XÁC NHẬN.
Tức là những chỉ số xuất hiện sau cùng và xác nhận một xu hướng đã xảy ra.
Ví dụ:
– GDP
– CPI
– Tỷ lệ thất nghiệp
– Lợi nhuận doanh nghiệp
– Nợ xấu ngân hàng
Những chỉ số này thường xuất hiện sau khi nền kinh tế đã thay đổi một khoảng thời gian.
Và như vậy, khi xây dựng kịch bản thị trường, chúng ta sẽ không chỉ nhìn vào một loại chỉ số.
Chúng ta phải kết hợp cả:
– Chỉ số dẫn dắt
– Chỉ số hiện hành
– Chỉ số xác nhận
Mỗi nhà đầu tư sẽ có một hệ thống theo dõi khác nhau.
Ví dụ, có người rất quan tâm đến DXY.
Có người lại theo dõi lãi suất liên ngân hàng.
Có người theo dõi PMI.
Có người theo dõi dòng vốn nước ngoài.
Và từ những dữ liệu đó, mỗi người sẽ xây dựng cho mình một mô hình riêng để dự báo thị trường.
Đó cũng chính là lý do vì sao cùng nhìn một thị trường nhưng có người lạc quan, có người bi quan, và có người đứng ngoài quan sát.
DỰ PHÓNG GDP – CPI
(Hướng dẫn có bài tập thực hành)
Bây giờ chúng ta thử tính xem CPI của Việt Nam có thể dự phóng được không, tại vì muốn xây dựng các mô hình đầu tư thì chúng ta phải dự phóng được CPI và GDP.
Chúng ta sẽ lấy thông tin như thế nào?
Để dự phóng được CPI hoặc GDP thì chúng ta phải xem được các cấu phần của nó và phân tích từng cấu phần đó.
Rồi bây giờ chúng ta hãy cùng xem.
Cấu trúc CPI của Việt Nam
Rồi, chúng ta xem trong rổ CPI thì phần nào chiếm tỷ trọng nhiều nhất?
Đó là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống.
Chúng ta nhớ rằng khi thu nhập của người dân càng ngày càng cao thì tỷ trọng chi tiêu cho ăn uống thường sẽ giảm dần. Tuy nhiên, dù tỷ trọng có giảm thì ăn uống vẫn là nhóm chi tiêu lớn nhất trong cơ cấu CPI của Việt Nam.
Để phân tích CPI thì thực ra khá đơn giản. Vì sao?
Bởi vì CPI chỉ là sự thay đổi giá của một rổ hàng hóa và dịch vụ mà người dân tiêu dùng hằng ngày.
Ví dụ:
– Giá thực phẩm tăng → CPI tăng.
– Giá xăng dầu tăng → chi phí vận chuyển tăng → CPI tăng.
– Giá điện, nước, giáo dục hoặc y tế tăng → CPI tăng.
Cho nên khi phân tích CPI, điều quan trọng nhất là phải nhìn vào các nhóm hàng hóa có tỷ trọng lớn trong rổ CPI và xem giá của các nhóm đó đang biến động như thế nào.
Bây giờ chúng ta nói về lạm phát.
Lạm phát của Việt Nam và Mỹ có giống nhau không?
Không hoàn toàn giống nhau.
Lý do rất đơn giản là cơ cấu tiêu dùng của người dân Việt Nam và người dân Mỹ khác nhau.
Ví dụ:
– Ở Việt Nam, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng rất lớn trong CPI.
– Trong khi đó ở Mỹ, chi phí nhà ở, tiền thuê nhà và các dịch vụ lại chiếm tỷ trọng rất cao.
Cho nên có những thời điểm giá thực phẩm tăng mạnh thì CPI của Việt Nam tăng đáng kể, nhưng CPI của Mỹ lại không bị ảnh hưởng nhiều như vậy.
Ngược lại, khi giá nhà hoặc tiền thuê nhà tại Mỹ tăng mạnh thì CPI của Mỹ có thể tăng rất cao, trong khi tác động tới CPI của Việt Nam không lớn bằng.
Do đó, khi phân tích lạm phát, chúng ta không thể lấy nguyên mô hình của Mỹ rồi áp dụng cho Việt Nam được. Chúng ta phải hiểu cơ cấu CPI của từng quốc gia và tập trung vào những nhóm hàng hóa có tỷ trọng lớn nhất.
Như vậy, nguyên tắc đầu tiên khi dự phóng CPI là:
Đừng chỉ nhìn vào con số CPI cuối cùng. Hãy tách CPI thành từng cấu phần và phân tích từng cấu phần một. Khi hiểu được các cấu phần đó thì chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng được kịch bản lạm phát cho tương lai.
Bây giờ chúng ta nói về lạm phát Việt Nam và Mỹ có giống nhau không?
Đầu tiên chúng ta phải hiểu về rổ hàng hóa và trọng số của nó.
Khi chúng ta nói về một yếu tố đầu vào có thể ảnh hưởng tới mức giá thì chúng ta phải nhìn thấy rằng ở Việt Nam nhóm nào có tỷ trọng lớn nhất.
Chúng ta sẽ nhìn thấy:
– 34% là hàng hóa và dịch vụ ăn uống.
– 19% là nhà ở và vật liệu xây dựng.
– 10% là giao thông.
Như vậy chỉ riêng ba nhóm này đã chiếm hơn 60% rổ CPI.
Còn một số nhóm khác thì tỷ trọng khá nhỏ. Ví dụ như thiết bị và đồ dùng gia đình khoảng 7%, cho nên nếu nhóm này tăng giá thì tác động tới CPI cũng không lớn bằng các nhóm có tỷ trọng cao.
Vậy nên rất đơn giản thôi, nhóm nào chiếm tỷ trọng lớn nhất thì chúng ta sẽ ưu tiên phân tích nhóm đó trước.
Thế còn ở Mỹ thì chúng ta hãy nhìn ở đây:
– 22% là dịch vụ y tế.
– 23% là nhà ở.
– 23% là hàng hóa và dịch vụ.
– Trong khi đó hàng ăn và dịch vụ ăn uống chỉ khoảng 14%.
Như vậy chúng ta sẽ thấy ngay một điều rất thú vị:
Ở Việt Nam, nhóm ăn uống chiếm tỷ trọng rất lớn, còn ở Mỹ thì nhà ở và các loại dịch vụ lại chiếm tỷ trọng lớn hơn.
Do đó nếu giá lương thực, thực phẩm tăng mạnh thì CPI của Việt Nam thường sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn.
Ngược lại, nếu chi phí nhà ở hoặc chi phí dịch vụ tăng mạnh thì CPI của Mỹ thường sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn.
Như vậy việc đầu tiên khi chúng ta bóc tách CPI là gì?
Đó là chúng ta phải nhìn vào cơ cấu của rổ hàng hóa.
Nhóm nào có tỷ trọng lớn thì chúng ta phải tập trung phân tích nhóm đó trước, bởi vì chỉ cần nhóm đó biến động mạnh thì nó đã có thể kéo CPI của cả nền kinh tế tăng lên hoặc giảm xuống.
Cho nên khi phân tích lạm phát, chúng ta không chỉ nhìn vào con số CPI cuối cùng, mà chúng ta phải nhìn xem cấu phần nào đang làm CPI tăng và cấu phần nào đang làm CPI giảm.
BÓC TÁCH CPI (HÌNH 2)
Như vậy việc đầu tiên khi chúng ta bóc tách CPI thì chúng ta phải làm gì?
Đầu tiên chúng ta hãy nhớ rằng CPI là một chỉ số lagging (chỉ báo trễ), nghĩa là CPI chỉ thay đổi sau khi các mức giá thành phần của nó thay đổi.
Chúng ta nhìn lại 3 nhóm lớn mà vừa nãy đã nói:
– Hàng ăn và dịch vụ ăn uống.
– Nhà ở và vật liệu xây dựng.
– Giao thông.
Ba nhóm này chiếm khoảng 60% rổ CPI của Việt Nam.
Vậy nếu muốn dự phóng CPI thì chúng ta phải bóc tách sâu hơn vào từng nhóm (HÌNH 3)
Ví dụ:
Hàng ăn và dịch vụ ăn uống → chúng ta phải theo dõi giá thịt lợn, giá lương thực, thực phẩm.
Cái này rất đơn giản thôi, các bạn vào các báo cáo của Tổng cục Thống kê, họ thường ghi rất rõ trong tháng đó yếu tố nào là nguyên nhân chính làm CPI tăng hoặc giảm.
Thông thường chúng ta sẽ nhìn thấy những yếu tố như:
– Giá thịt lợn.
– Giá thuê nhà và giá thép.
– Giá xăng dầu.
(Xem Hình 3)
Ví dụ cụ thể:
Các nhóm ảnh hưởng chính đến CPI mà chúng ta đang theo dõi là HÀNG ĂN VÀ DỊCH VỤ ĂN UỐNG, NHÀ Ở VÀ VẬT LIỆU XÂY DỰNG, và GIAO THÔNG.
Trong đó:
– Nhà hàng và dịch vụ ăn uống → quan trọng nhất là giá thịt lợn.
– Nhà ở và vật liệu xây dựng → giá thuê nhà, giá nhà và giá thép.
– Giao thông → giá xăng RON95 và giá dầu Diesel.
Bây giờ mình hỏi mọi người:
Nếu giá xăng tăng 10% thì chuyện gì sẽ xảy ra?
Đầu tiên chúng ta biết ngay rằng CPI có khả năng tăng lên và áp lực lạm phát sẽ xuất hiện.
Tuy nhiên chưa dừng lại ở đó.
Sau đó chúng ta phải tính xem tỷ trọng của nhóm giao thông trong rổ CPI là bao nhiêu và mức độ ảnh hưởng của giá xăng dầu lớn đến đâu.
Chúng ta sẽ nhìn thấy ngay rằng nhóm giao thông chịu tác động rất mạnh từ giá xăng dầu.
Sau đó chúng ta đi thêm một bước nữa.
Nếu CPI có tỷ trọng lớn ở nhóm giao thông, thì trong nhóm giao thông chúng ta lại phải bóc tách xem yếu tố nào quan trọng nhất.
Và chúng ta sẽ thấy xăng dầu là yếu tố quan trọng nhất.
Như vậy quy trình phân tích sẽ là:
Giá xăng dầu → CPI giao thông → CPI chung.
Bây giờ chúng ta thử so sánh CPI giao thông và giá xăng dầu.
Các bạn có thể tra cứu thêm biểu đồ CPI giao thông Việt Nam và so sánh trực tiếp với diễn biến giá xăng dầu để thấy rằng hai chỉ số này có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau.
Và đây chính là tư duy dự phóng CPI:
Chúng ta không dự báo CPI bằng cách nhìn CPI.
Chúng ta dự báo CPI bằng cách đi tìm những yếu tố đầu vào quan trọng nhất của CPI, sau đó dự báo sự thay đổi của các yếu tố đầu vào đó.
Rồi bây giờ chúng ta phân tích vĩ mô. Giả sử ngày mai chúng ta nghe tin Nga và Ukraine leo thang xung đột, giá dầu tăng mạnh, thì chúng ta sẽ dự phóng CPI như thế nào?
Tôi đã chuẩn bị sẵn file Excel cho mọi người. Mọi người chỉ cần điền số liệu và dự phóng. Tuy nhiên trước khi làm bài tập thì chúng ta phải nắm được logic.
Cùng với cách làm tương tự như vậy, các bạn hãy xem mối liên hệ giữa:
– Giá thép với CPI nhóm Nhà ở & Vật liệu xây dựng.
– Giá thịt lợn với CPI nhóm Hàng ăn & Dịch vụ ăn uống.
https://widata.vn/vi-mo/vn/search?macroTargetID=2
Ở đây mọi người tìm kiếm từ khóa: Heo hơi trong nước.
Đây là biểu đồ thể hiện diễn biến giá thịt heo. Sau đó chúng ta thêm CPI vào để so sánh.
Những nhà đầu tư có cái nhìn chi tiết đến từng cấu phần của CPI sẽ có công cụ để tính toán và quan sát. Khi đó, mỗi khi có một yếu tố đầu vào thay đổi, chúng ta sẽ biết ngay nó ảnh hưởng đến CPI như thế nào và mức độ ảnh hưởng ra sao.
Ở đây, chúng tôi cũng theo dõi thường xuyên các yếu tố này, nên tôi sẽ chia sẻ với mọi người một cách đơn giản hơn. Vì đa số mọi người sẽ không trực tiếp phân tích chi tiết như chúng tôi, nên tôi đã làm sẵn một số giả định để chúng ta thực hành.
Bài tập đầu tiên sẽ là dự báo CPI.
Chúng ta sẽ giả định:
– Giá thực phẩm tăng bao nhiêu phần trăm.
– Giá nhà ở và vật liệu xây dựng tăng bao nhiêu phần trăm.
– Giá xăng dầu tăng bao nhiêu phần trăm.
– Phần còn lại của rổ CPI thay đổi như thế nào.
Sau đó chúng ta sẽ chia CPI thành 4 nhóm chính:
– Thực phẩm.
– Nhà ở & Vật liệu xây dựng.
– Giao thông.
– Các nhóm còn lại.
Tiếp theo, chúng ta tính xem mỗi nhóm có tỷ trọng bao nhiêu trong rổ CPI và mức tăng giá của từng nhóm sẽ đóng góp bao nhiêu vào lạm phát chung.
Khi đã có công cụ này, mỗi khi:
– Giá thịt lợn tăng,
– Giá xăng tăng,
– Giá thép tăng,
thì chúng ta có thể ước tính tương đối nhanh CPI sẽ thay đổi như thế nào.
Đó chính là cách tiếp cận từ cấu phần để dự phóng CPI. Thay vì chờ CPI công bố rồi mới biết lạm phát tăng hay giảm, chúng ta chủ động theo dõi các yếu tố đầu vào quan trọng và dự báo trước xu hướng của CPI.
Như vậy thì chúng ta cần thấy rằng, khi muốn dự phóng CPI thì chúng ta phải theo dõi các chỉ số dẫn dắt (leading indicators). Đây là những chỉ số rất quan trọng:
– Giá thịt heo.
– Giá thuê nhà và giá thép.
– Giá xăng dầu.
Khi các yếu tố leading indicator này thay đổi, chúng ta đã biết trọng số của từng nhóm trong rổ CPI rồi, nên chỉ cần tính ngược lên là có thể ước tính được mức độ truyền dẫn vào CPI như thế nào.
Và khi CPI tăng thì chúng ta cũng sẽ hiểu được Chính phủ có khả năng phản ứng bằng những chính sách gì.
Bây giờ tôi hỏi mọi người một câu nhé:
Có bao giờ các bạn tự hỏi vì sao khi giá xăng tăng thì Chính phủ lại có những động thái can thiệp không?
Nếu các bạn theo dõi giai đoạn năm 2022 thì sẽ thấy rất rõ. Khi giá xăng tăng mạnh, Chính phủ đã làm gì? (HÌNH 4)
Đó chính là giảm thuế.
Tại sao lại phải giảm thuế?
Bây giờ chúng ta tư duy logic một chút. Giả sử bạn là Thủ tướng.
Giá dầu tăng → giá xăng tăng → CPI nhóm giao thông tăng → CPI chung tăng. (SUY NGƯỢC TỪ DƯỚI LÊN HÌNH 4)
Khi đó bạn phải làm gì?
Nếu chúng ta nhìn vào cấu trúc CPI thì sẽ thấy ngay vấn đề. Giá dầu là một yếu tố đầu vào quan trọng của nhóm giao thông. Khi giá dầu tăng mạnh, nó sẽ đẩy chi phí vận tải tăng lên và từ đó gây áp lực lên CPI.
Vậy nên Chính phủ có thể lựa chọn giảm một phần thuế, phí trong cơ cấu giá xăng dầu để hạn chế tốc độ tăng giá bán lẻ.
Hay nói cách khác:
Giá dầu tăng → nguy cơ CPI tăng → Chính phủ can thiệp bằng chính sách tài khóa.
Trong trường hợp này, việc giảm thuế hoặc hỗ trợ giá chính là một hình thức sử dụng CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA để làm giảm bớt tác động của giá dầu lên lạm phát.
Như vậy chúng ta sẽ thấy rằng:
CHÍNH PHỦ nhìn thấy vấn đề giá dầu tăng và đã tác động vào CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA để hạn chế áp lực lạm phát đối với nền kinh tế.
Đó chính là cách mà một nhà phân tích vĩ mô suy nghĩ: không phải đợi CPI công bố rồi mới phân tích, mà phải nhìn từ các yếu tố đầu vào, dự báo CPI trước, rồi từ CPI dự báo phản ứng chính sách của Chính phủ.
Chúng ta hiểu được logic như vậy thì sẽ thấy rằng những biến động của nền kinh tế thực ra rất dễ giải thích.
Khi dự phóng CPI, chúng ta không cần phải dự phóng toàn bộ hàng trăm mặt hàng trong rổ CPI. Chúng ta chỉ cần tập trung vào những cấu phần có tỷ trọng lớn nhất và những yếu tố đang có biến động mạnh.
Khi đã dự phóng được CPI, chúng ta sẽ biết Chính phủ có khả năng phải làm gì để kiểm soát lạm phát. Và chắc chắn những chính sách đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến một số ngành nghề và một số nhóm tài sản trên thị trường tài chính.
Như vậy, bài tập ở đây tôi muốn mọi người thực hành là dự phóng CPI của tháng 01/2023.
Chúng ta hãy nhìn lại tháng 12/2022:
– Nhóm nào đang chiếm tỷ trọng lớn nhất trong CPI?
– Những mặt hàng quan trọng như xăng dầu, thịt heo, giá thuê nhà, vật liệu xây dựng đang có xu hướng tăng hay giảm?
– Tháng 01 lại là thời điểm cận Tết, vậy những mặt hàng nào thường có xu hướng tăng giá?
Sau khi trả lời được các câu hỏi đó, chúng ta có thể xây dựng một dự báo tương đối hợp lý cho CPI tháng 01/2023.
Và từ cách làm đó, chúng ta quay trở lại hiện tại.
Ví dụ hôm nay là tháng 06/2026, thì chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng chính mô hình này để dự phóng CPI tháng 07/2026.
Chỉ cần theo dõi các cấu phần quan trọng của CPI, đánh giá xu hướng tăng giảm của từng nhóm hàng hóa, sau đó áp trọng số tương ứng vào mô hình, chúng ta sẽ có một dự báo tương đối sát với thực tế.
Đó cũng chính là cách mà các nhà phân tích vĩ mô tiếp cận vấn đề: không phải chờ số liệu được công bố rồi mới phân tích, mà phải dự báo trước xu hướng của nền kinh tế dựa trên các yếu tố đầu vào đang thay đổi từng ngày.
File bài thực hành: https://drive.google.com/drive/u/0/folders/1VAwLbpLXKEzp6gOapZM2ImYM5q4x7RaD
Chúng ta bám vào tư duy phân tích từng phần. Sau khi đã dự phóng được lạm phát (CPI), thì bước tiếp theo là dự phóng GDP.
File bài tập: https://drive.google.com/drive/u/0/folders/1cJitGF76kG4eZyqReXBx4La3KQgIf5lU
GDP có thể được tính theo 3 phương pháp:
1. Phương pháp sản xuất.
2. Phương pháp chi tiêu.
3. Phương pháp thu nhập.
(Cái này chúng ta đã viết ở những bài trước rồi nên chắc mọi người đều thấy khá dễ hiểu, nếu không hãy đọc lại)
Bây giờ chúng ta biết rằng ở Việt Nam, khi phân tích tăng trưởng kinh tế thì người ta thường theo dõi GDP theo phương pháp sản xuất. Vì vậy, chúng ta sẽ xem cấu phần của GDP theo phương pháp sản xuất gồm những gì.
GDP theo phương pháp sản xuất bao gồm:
– Nông, lâm nghiệp và thủy sản.
– Công nghiệp và xây dựng.
– Dịch vụ.
-vThuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm.
Trong đó:
– Công nghiệp chiếm khoảng 38,5% GDP.
– Dịch vụ chiếm khoảng 42,4% GDP.
– Nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm khoảng 11,6% GDP.
Như vậy, hai khu vực lớn nhất của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là:
– DỊCH VỤ.
– CÔNG NGHIỆP & XÂY DỰNG.
Do đó, khi dự phóng GDP, chúng ta phải tập trung nhiều nhất vào hai khu vực này.
Đối với khu vực Công nghiệp & Xây dựng, có hai chỉ số rất quan trọng mà chúng ta cần theo dõi:
Thứ nhất là PMI (Purchasing Managers' Index).
PMI là chỉ số phản ánh sức khỏe của ngành sản xuất.
– PMI trên 50: hoạt động sản xuất có xu hướng mở rộng.
– PMI dưới 50: hoạt động sản xuất có xu hướng thu hẹp.
Đây là một chỉ số dẫn dắt (leading indicator), giúp chúng ta nhìn thấy xu hướng trước khi số liệu GDP được công bố.
Thứ hai là IIP (Index of Industrial Production).
IIP là chỉ số sản xuất công nghiệp.
Khi phân tích IIP, chúng ta sẽ xem chi tiết các cấu phần như:
– Khai khoáng.
– Công nghiệp chế biến, chế tạo.
– Sản xuất và phân phối điện.
– Cung cấp nước, xử lý rác thải và nước thải.
Trong đó, quan trọng nhất vẫn là ngành chế biến, chế tạo vì đây là động lực tăng trưởng lớn nhất của khu vực công nghiệp Việt Nam.
Như vậy, khi xây dựng mô hình dự phóng GDP, chúng ta sẽ bắt đầu từ việc theo dõi PMI và IIP để đánh giá sức khỏe của khu vực Công nghiệp & Xây dựng, sau đó tiếp tục phân tích khu vực Dịch vụ là khu vực có tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế.
Tiếp theo chúng ta sẽ đi sâu vào cấu trúc của IIP để xem chỉ số này có thể giúp chúng ta dự báo GDP như thế nào.
Nhìn vào đây thì chúng ta sẽ đặt câu hỏi: Làm thế nào để dự phóng được GDP?
Khi nhìn vào cơ cấu GDP của Việt Nam, chúng ta sẽ thấy ngay đâu là những yếu tố có khả năng tác động mạnh nhất đến tăng trưởng kinh tế.
Chúng ta thấy rằng tốc độ tăng trưởng của khu vực nông nghiệp trong nhiều năm gần đây tương đối ổn định và không phải là động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế. Trong khi đó, khoảng 80% GDP của Việt Nam nằm ở hai khu vực lớn nhất là:
– DỊCH VỤ.
– CÔNG NGHIỆP & XÂY DỰNG.
Theo góc nhìn của tôi thì đây là một tín hiệu khá tích cực. Một số bạn có thể cho rằng tỷ trọng nông nghiệp của chúng ta đang thấp đi. Điều đó đúng, nhưng chúng ta cũng phải nhìn vào thực tế rằng Việt Nam đang ở trong quá trình công nghiệp hóa và tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Vì vậy, việc tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp tăng lên là điều bình thường đối với một nền kinh tế đang phát triển.
Như vậy, nếu muốn dự phóng GDP, chúng ta phải bóc tách từng khu vực một.
Chúng ta sẽ đi từ DỊCH VỤ, sau đó đến CÔNG NGHIỆP & XÂY DỰNG để xem liệu có thể sử dụng các chỉ số nào để dự báo tăng trưởng hay không.
Bây giờ chúng ta bắt đầu với PMI.
Nhìn vào PMI như thế này, nếu PMI chỉ còn 48 điểm thì chúng ta có thể dự phóng GDP như thế nào?
Các bạn sẽ thấy rằng sau năm 2020, mỗi khi PMI giảm mạnh thì IIP cũng có xu hướng giảm theo.
PMI là chỉ số dẫn dắt (leading indicator), còn IIP là chỉ số phản ánh trực tiếp hoạt động sản xuất công nghiệp. Vì vậy, khi PMI đi xuống, rất nhiều trường hợp chúng ta sẽ thấy IIP giảm sau đó một khoảng thời gian.
Và khi IIP giảm, tăng trưởng của khu vực công nghiệp cũng sẽ chịu áp lực.
Các bạn sẽ thấy một điểm rất quan trọng:
Khi các chỉ số phản ánh hoạt động sản xuất cùng suy yếu, tăng trưởng GDP thường cũng sẽ giảm theo.
Đó là lý do vì sao mỗi khi PMI hoặc IIP có xu hướng đi xuống, thị trường thường bắt đầu lo ngại về triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế trong các quý tiếp theo.
Ví dụ, nếu cuối năm PMI liên tục nằm dưới 50 điểm và IIP cũng suy yếu, thì câu hỏi đặt ra là:
GDP năm sau sẽ như thế nào?
Liệu các dự báo tăng trưởng của IMF, Ngân hàng Thế giới hay các tổ chức quốc tế có còn khả thi hay không?
Đó chính là cách mà chúng ta sử dụng các chỉ số kinh tế để kiểm chứng lại các dự báo tăng trưởng.
Bây giờ tôi sẽ đi nốt phần lý thuyết về dự phóng GDP. Sau đó tôi sẽ giới thiệu bài tập trên Excel để mọi người có thể tự xây dựng mô hình dự báo.
Một khi chúng ta có thể dự phóng được GDP và lạm phát, thì về cơ bản chúng ta đã có thể hình dung tương đối rõ bức tranh của nền kinh tế trong tương lai.
Có ba cách phổ biến để dự phóng GDP:
1. Sử dụng các mô hình và dự báo của các tổ chức quốc tế như IMF, World Bank hoặc ADB.
2. Tự xây dựng mô hình dự phóng GDP dựa trên các biến số vĩ mô.
3. Dự phóng từng cấu phần của nền kinh tế, sau đó tổng hợp lại thành GDP chung.
Cách thứ ba thường được gọi là:
Sectoral Forecasting (Dự phóng theo từng khu vực kinh tế).
Tức là chúng ta sẽ dự báo riêng:
– Nông nghiệp.
– Công nghiệp & Xây dựng.
– Dịch vụ.
Sau đó nhân với tỷ trọng của từng khu vực trong GDP và cộng lại để ước tính tăng trưởng GDP của toàn nền kinh tế.
Đây cũng là phương pháp mà nhiều tổ chức nghiên cứu và công ty chứng khoán thường sử dụng khi xây dựng các kịch bản kinh tế vĩ mô.
Thế thì khi dự phóng GDP, chúng ta sẽ thấy rằng cần tập trung vào những khu vực chiếm tỷ trọng lớn nhất của nền kinh tế.
Đối với khu vực DỊCH VỤ, chúng ta sẽ theo dõi chỉ số Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng vì đây là một chỉ báo quan trọng phản ánh sức khỏe của khu vực dịch vụ, trong khi khu vực này đang chiếm khoảng 40% GDP.
Đối với khu vực CÔNG NGHIỆP & XÂY DỰNG, chúng ta sẽ theo dõi các chỉ số sản xuất công nghiệp.
Tại sao chúng ta có thể dự phóng được GDP?
Bởi vì chúng ta đã biết GDP là một chỉ số lagging (chỉ báo trễ), thậm chí số liệu GDP thường chỉ được công bố sau khi quý đã kết thúc.
Trong khi đó, các số liệu như bán lẻ, PMI hay IIP được công bố hằng tháng.
Ví dụ:
– Tháng 1 chúng ta có số liệu.
– Tháng 2 chúng ta có số liệu.
– Tháng 3 chúng ta có số liệu.
Vậy thì ngay trong quý I, khi đã có dữ liệu của các tháng đầu quý, chúng ta hoàn toàn có thể ước tính được GDP quý I sẽ tăng trưởng như thế nào.
Nói cách khác, chúng ta có thể dự phóng GDP trước khi cơ quan thống kê chính thức công bố.
Tôi tin rằng với công cụ phù hợp và cách tư duy đúng, khi đưa số liệu vào mô hình thì chúng ta sẽ có được một dự báo tương đối sát với thực tế.
Rồi, bây giờ quay lại với PMI.
Chúng ta đã thấy rằng khu vực Công nghiệp & Xây dựng chiếm gần 40% GDP.
Do đó:
– PMI trên 50 thường phản ánh hoạt động sản xuất đang mở rộng.
– PMI dưới 50 thường phản ánh hoạt động sản xuất đang thu hẹp.
Điều đó không có nghĩa là GDP chắc chắn giảm hay tăng, nhưng nó là một tín hiệu rất quan trọng cho thấy xu hướng của khu vực công nghiệp trong những tháng tới.
Chi tiết về PMI thì ở các phần trước chúng ta đã trình bày khá kỹ.
Tuy nhiên, quan trọng hơn cả vẫn là chỉ số IIP.
Khi nhìn vào cơ cấu GDP, chúng ta sẽ thấy:
– Nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm khoảng 11–12% GDP nên ảnh hưởng không quá lớn đến tăng trưởng chung.
– Công nghiệp & Xây dựng chiếm gần 40% GDP.
– Dịch vụ chiếm khoảng 42% GDP.
Trong khu vực Công nghiệp & Xây dựng, ngành quan trọng nhất chính là Công nghiệp chế biến, chế tạo, hiện chiếm khoảng 25% GDP.
Ngược lại, ngành khai khoáng hiện chỉ chiếm tỷ trọng khá nhỏ, khoảng 3% GDP.
Vì vậy, khi dự phóng GDP, chúng ta không nhất thiết phải đi quá sâu vào khai khoáng. Chỉ cần theo dõi sát ngành chế biến, chế tạo là đã nắm được phần lớn động lực tăng trưởng của khu vực công nghiệp.
Đối với khu vực Dịch vụ, cơ cấu tương đối đa dạng và khá cân bằng giữa nhiều ngành nghề khác nhau. Vì vậy, chúng ta thường nhìn tổng thể thông qua các chỉ số như:
– Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng.
– Du lịch.
– Vận tải.
– Lưu trú và ăn uống.
Cuối cùng, khi nhìn vào cơ cấu GDP của Việt Nam qua nhiều năm, chúng ta sẽ thấy một xu hướng rất rõ:
– Tỷ trọng Nông, lâm nghiệp và thủy sản ngày càng giảm.
– Tỷ trọng Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tương đối ổn định.
– Hai khu vực lớn nhất vẫn là DỊCH VỤ và CÔNG NGHIỆP & XÂY DỰNG.
Đây chính là hai động cơ tăng trưởng quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
Do đó, nếu muốn dự phóng GDP một cách hiệu quả, chúng ta nên tập trung phần lớn thời gian phân tích vào hai khu vực này và đi thật chi tiết vào các chỉ số phản ánh hoạt động của chúng.
Ở đây thì tôi đã làm sẵn phần giải thích chỉ số Quản lý Thu mua PMI là gì.
PMI thì các bạn có thể xem trên WiChart hoặc vào Trading Economics. Chỉ số này được công bố hằng tháng (thường vào đầu tháng sau), đơn vị tính là điểm.
PMI được cấu thành từ các thành phần chính:
– 30% là Đơn đặt hàng mới
– 25% là Sản lượng
– 20% là Việc làm
– 15% là Thời gian giao hàng của nhà cung cấp
– 10% là Tồn kho hàng mua
Ở góc nhìn của tôi, đây là một chỉ số rất phù hợp để chúng ta sử dụng trong việc dự phóng kinh tế, bởi vì nó phản ánh khá sớm xu hướng hoạt động sản xuất.
Chúng ta có thể đo sự tương quan của PMI với khu vực Công nghiệp và Xây dựng.
PMI trên 50 điểm cho thấy hoạt động sản xuất đang mở rộng, còn PMI dưới 50 điểm cho thấy hoạt động sản xuất đang thu hẹp. Chính vì vậy, đây được xem là một trong những chỉ số dẫn dắt (leading indicator) rất quan trọng đối với tăng trưởng GDP.
IIP
Tiếp theo là IIP (Index of Industrial Production) – Chỉ số Sản xuất Công nghiệp.
Đây là chỉ số dùng để đánh giá tốc độ tăng trưởng sản xuất của ngành công nghiệp theo tháng, quý và năm.
Hằng tháng chúng ta đều có số liệu từ Tổng cục Thống kê, hoặc các bạn có thể theo dõi trên WiChart.
Chỉ số này phản ánh khá nhanh tình hình phát triển của toàn ngành công nghiệp. Vì vậy khi theo dõi IIP, chúng ta sẽ thấy rất rõ xu hướng vận động của nền kinh tế thực.
Mỗi khi chỉ số IIP tăng trưởng mạnh thì thông thường sản xuất công nghiệp cũng đang tăng trưởng tốt. Ngược lại, khi IIP giảm tốc hoặc tăng trưởng âm thì đó là tín hiệu cho thấy hoạt động sản xuất đang gặp khó khăn.
Các bạn có thể nhìn trên biểu đồ sẽ thấy diễn biến của IIP khá "mượt", phản ánh tương đối sát chu kỳ sản xuất của nền kinh tế.
Cho nên khi những chỉ số như PMI hoặc IIP bắt đầu đi xuống, chúng ta cần đặc biệt cẩn thận, bởi vì rất có thể tăng trưởng GDP trong các quý tiếp theo cũng sẽ chịu ảnh hưởng.
Khu vực Bán lẻ Hàng hoá và Dịch vụ
Cấu phần cuối cùng mà chúng ta cần theo dõi là Bán lẻ Hàng hoá và Doanh thu Dịch vụ Tiêu dùng.
Tại sao chỉ số này lại quan trọng?
Bởi vì khu vực dịch vụ hiện nay chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP của Việt Nam. Nếu người dân chi tiêu nhiều hơn, doanh thu bán lẻ tăng lên thì điều đó cho thấy sức cầu trong nền kinh tế đang tốt.
Ngược lại, nếu doanh thu bán lẻ tăng chậm hoặc suy giảm thì đó là dấu hiệu cho thấy người dân đang thắt chặt chi tiêu và tăng trưởng của khu vực dịch vụ có thể bị ảnh hưởng.
Do đó, khi dự phóng GDP, chúng ta thường sẽ theo dõi ba nhóm chỉ số quan trọng:
– PMI → phản ánh xu hướng sản xuất trong tương lai.
– IIP → phản ánh thực trạng sản xuất công nghiệp hiện tại.
– Bán lẻ Hàng hoá và Doanh thu Dịch vụ → phản ánh sức cầu và khu vực dịch vụ.
Khi kết hợp cả ba nhóm chỉ số này lại, chúng ta đã có thể hình dung khá rõ bức tranh tăng trưởng GDP của một quý hoặc thậm chí của cả năm. Đây cũng chính là nền tảng để chúng ta xây dựng mô hình dự phóng GDP một cách tương đối chính xác.
File hướng dẫn GDP: https://docs.google.com/document/d/1SiMherMtIR1MgF9Fh6jQRL3H_i6Envyeb46E1FMkRd4/edit?tab=t.0
Bài viết được trích xuất và lưu trữ từ trang chính thức CMB Investing – Cố Vấn Đầu Tư VPS. Xem bài viết gốc trên Facebook ↗
Mỗi ấn phẩm Tạp Chí CMB được chắt lọc từ những chiêm nghiệm sống và phân tích đầu tư thực chiến, nhằm đồng hành cùng các anh chị trên con đường tự do tài chính.