SERIES ĐỌC VỊ VĨ MÔ TRONG PHÂN TÍCH – VÀNG – CHỨNG KHOÁN – BĐS
Phần 2: Chính sách tiền tệ - tài khoá và kết hợp tiền tệ…
(Rất dễ hiểu)
SERIES ĐẦU TƯ BÀI BẢN: TỪ PHÂN TÍCH VĨ MÔ -> ĐỊNH GIÁ CÔNG TY
PHẦN ĐẦU TIÊN: là lý thuyết vĩ mô, giúp hiểu cách nền kinh tế vận hành.
(Đã có phần đầu tiên: https://www.facebook.com/photo/?fbid=122131327185129767&set=a.122111697837129767
PHẦN THỨ HAI: là bóc tách hai chỉ số quan trọng nhất: GDP và lạm phát.
PHẦN THỨ BA: là hiểu rõ chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, bao gồm cơ chế bơm tiền – hút tiền trong nền kinh tế.
PHẦN CUỐI: cùng là phân tích ba biến số cốt lõi: tỷ giá, lãi suất và trái phiếu – đây chính là các “điểm truyền dẫn” ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường tài sản.
Khi có được khung này, việc đầu tư sẽ không còn mang tính cảm tính. Mỗi khi một sự kiện xảy ra, chúng ta có thể ngay lập tức đặt nó vào mô hình, nhìn ra nó ảnh hưởng đến biến số nào, dòng tiền dịch chuyển ra sao và từ đó đưa ra quyết định hợp lý. Đây chính là cách biến kiến thức vĩ mô thành lợi thế trong đầu tư.
(SẼ ĐI XUYÊN SUỐT TỪNG PHẦN TRONG TỪNG BÀI VIẾT)
—
P/s: Học nó rất là khó so với cái việc chúng ta đọc một loại sách như là dạng selfhelp. Học khó hơn, nhưng khi học khó, thì kiến thức của bạn thực sự mới là có và nó mới tạo kiến thức nền tảng, kiến thức chuẩn cho các bạn. Và dễ đọc như kiểu kiến thức kiểu là 4M, nó là sách selfhelp. Và nó không tạo cho chúng ta có kiến thức nền tảng, kiến thức đầu tư chuẩn và nếu mà chúng ta không có kiến thức đầu tư chuẩn thì chúng ta sẽ lọt thỏm trong một “CÁI ĐÁM Ô HỢP” Như chúng ta đã biết rồi, đầu tư trên thị trường tài chính : “95% số người đầu tư là thua lỗ, chỉ có 5% là chiến thắng.” Có nghĩa là chúng ta chỉ đọc sách selfhelp thì chúng ta khả năng rất là cao nằm trong 95% tức là nằm lọt thỏm trong một cái ĐÁM ĐÔNG Ô HỢP, và không biết rằng khi thị trường “như thế này” thì chúng ta phải hành động như thế nào, và không biết hành động như thế nào thì câu chuỵện đặt ra là chúng ta luôn chậm chân so với thị trường và chậm chân so với các smart-money và các smart-money là người có kiến thức nhất có kinh nghiệm nhất, khi đó thì chúng ta thua lỗ nếu xét trong dài hạn.
.“Compound interest is the eighth wonder of the world. He who understands it, earns it … he who doesn't … pays it.” – Albert Einstein
(Lãi kép là kỳ quán thứ 8 của thế giới)
Vì muốn làm được như vậy nên mục tiêu của chuỗi series này là đưa cho các bạn một kiến thức chuẩn nhất và một mindset quan trọng nhất khi chúng ta mới bắt đầu chuẩn bị bước vào đầu tư: từ phân tích vĩ mô cho đến định giá công ty…
Và một khi chúng ta có kiến thức về một việc gì đó chúng ta hiểu cách vận hành của nó thì chúng ta có thể dùng chính những kiến thức đó để nhận ra những cơ hội và dùng chính những cơ hội đó để kiến tiền, và đó chính là cách tốt nhất để kiếm tiền. Chúng ta kiếm tiền dựa trên những kiến thức và hiểu biết của mình để rồi nhận diện ra được những cơ hội đầu tư và kinh doanh. Để không còn kiếm tiền theo cách là chạy theo số đông, nghe đầu này một chút đầu kia một chút, đầu tư theo kiểm may rủi. Và đấy không phải là đầu tư mà là đánh bạc.
——————
Chúng ta phải hiểu rõ thế nào là kinh tế, thế nào là kinh tế học, thế nào là nền kinh tế; phân biệt được kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô, từ đó mới có thể hiểu đúng cách vận hành của thị trường và dòng tiền.
Trước hết, cần đặt nền tảng bằng mô hình một nền kinh tế mở. Trong đó có ba chủ thể chính là Chính phủ, Hộ gia đình và Doanh nghiệp, tương tác với nhau thông qua các thị trường: thị trường lao động, thị trường tài chính và thị trường hàng hóa. Bên cạnh đó là yếu tố nước ngoài thông qua xuất nhập khẩu và dòng vốn quốc tế như FDI, FII. Toàn bộ các dòng chảy này tạo thành một hệ thống liên kết chặt chẽ, nơi vốn, lao động và hàng hóa liên tục luân chuyển.
Khi phân tích, chúng ta cần phân biệt giữa “kinh tế học” (economic) và “nền kinh tế” (economy). Kinh tế học là lý thuyết, còn nền kinh tế là thực tế vận hành. Vì vậy, khi đầu tư, chúng ta không chỉ học lý thuyết mà phải hiểu cách các biến số vận động trong thực tế, đặc biệt là vai trò của Chính phủ.
Chính phủ có hai vai trò cốt lõi: thúc đẩy tăng trưởng dài hạn và ổn định kinh tế trong ngắn hạn. Trong dài hạn, mục tiêu là nâng cao năng suất và tăng GDP trên đầu người. Trong ngắn hạn, Chính phủ tác động vào nền kinh tế chủ yếu thông qua hai công cụ là chính sách tiền tệ (Ngân hàng Trung ương) và chính sách tài khóa (chi tiêu và thu ngân sách). Hai chính sách này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất, tỷ giá và thị trường trái phiếu – những biến số cực kỳ quan trọng đối với mọi loại tài sản.
Khi quay lại bài toán đầu tư, bất kỳ một tài sản nào cũng có thể quy về một công thức rất cơ bản:
Lợi tức kỳ vọng (Asset Return) = Lợi tức phi rủi ro (Rf) + Phần bù rủi ro (Risk Premium)
Trong đó, phần bù rủi ro được chia thành hai loại. Thứ nhất là rủi ro riêng lẻ (specific risk) – loại rủi ro này có thể giảm thiểu thông qua đa dạng hóa, ví dụ đầu tư vào nhiều ngành, nhiều doanh nghiệp khác nhau. Thứ hai là rủi ro hệ thống (systematic risk hay market risk) – đây là loại rủi ro không thể đa dạng hóa, vì nó ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường.
Chính vì không thể loại bỏ rủi ro hệ thống, nên nhà đầu tư buộc phải phân tích nó. Cần trả lời các câu hỏi: rủi ro đó có xảy ra không, nếu xảy ra thì ảnh hưởng đến đâu, và Chính phủ sẽ phản ứng như thế nào. Từ đó, chúng ta có hai hướng hành động: hoặc là chuyển dịch danh mục tài sản, hoặc là sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro (hedging).
Đây cũng chính là lý do tồn tại của thị trường phái sinh. Bản chất của phái sinh không phải để đầu cơ, mà là để quản trị rủi ro cho các tài sản cơ sở. Từ cổ phiếu phái sinh, trái phiếu phái sinh cho đến phái sinh hàng hóa, tất cả đều phục vụ mục tiêu kiểm soát rủi ro trong một hệ thống tài chính ngày càng phức tạp.
Từ toàn bộ những điều trên, có thể xây dựng một khung học đầu tư bài bản và có hệ thống.
Phần đầu tiên là lý thuyết vĩ mô, giúp hiểu cách nền kinh tế vận hành.
Phần thứ hai là bóc tách hai chỉ số quan trọng nhất: GDP và lạm phát.
Phần thứ ba là hiểu rõ chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, bao gồm cơ chế bơm tiền – hút tiền trong nền kinh tế.
Phần cuối cùng là phân tích ba biến số cốt lõi: tỷ giá, lãi suất và trái phiếu – đây chính là các “điểm truyền dẫn” ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường tài sản.
Khi có được khung này, việc đầu tư sẽ không còn mang tính cảm tính. Mỗi khi một sự kiện xảy ra, chúng ta có thể ngay lập tức đặt nó vào mô hình, nhìn ra nó ảnh hưởng đến biến số nào, dòng tiền dịch chuyển ra sao và từ đó đưa ra quyết định hợp lý. Đây chính là cách biến kiến thức vĩ mô thành lợi thế trong đầu tư.
—
Đầu tư vào tài sản (ASSET) là việc nắm giữ một tài sản với kỳ vọng tạo ra lợi tức (RETURN) trong tương lai, hay còn gọi là lợi tức kỳ vọng của đầu tư (ASSET RETURN).
ASSET RETURN (lợi tức kỳ vọng) = Rf (lợi tức phi rủi ro) + Risk Premium (phần bù rủi ro / lợi ích tăng thêm)
Nếu nói một cách đơn giản: Lợi tức kỳ vọng = Trái phiếu Chính phủ + lạm phát
Lợi tức kỳ vọng bao gồm lợi tức phi rủi ro (ở Việt Nam mọi người thường lấy lợi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm) và phần bù rủi ro.
Phần bù rủi ro (Risk Premium) có 2 phần:
Phần 1: RỦI RO THỊ TRƯỜNG/RỦI RO HỆ THỐNG (MARKET RISK/ SYSTEMATIC RISK)
Rủi ro thị trường có đặc tính là không thể đa dạng hóa, có nghĩa là khi rủi ro đó xảy ra thì toàn bộ các thành viên trên thị trường đều phải gánh chịu.
Ví dụ: khi tăng lãi suất hoặc có vấn đề về tỷ giá thì tất cả các thành viên tham gia thị trường hoặc các tài sản trong thị trường đó như thị trường trái phiếu, cổ phiếu hay bất động sản đều bị ảnh hưởng. Khi lãi suất tăng thì cả thị trường bất động sản sẽ chịu tác động.
Đặc điểm của rủi ro này là không thể đa dạng hóa, tức là dù chúng ta có mua 50 hay 100 cổ phiếu ở các công ty khác nhau thì vẫn sẽ thấy sự sụt giảm đồng thời. Năm 2022 là một bài học rất rõ về rủi ro thị trường này.
Phần 2: RỦI RO CỤ THỂ (rủi ro riêng lẻ – SPECIFIC RISK)
Đây là rủi ro liên quan đến từng mã cổ phiếu, từng ngành hoặc từng doanh nghiệp cụ thể, ví dụ như ngành nào hưởng lợi hoặc bị ảnh hưởng riêng.
Điểm quan trọng là loại rủi ro này có thể đa dạng hóa được, tức là khi phân bổ danh mục đầu tư hợp lý thì có thể giảm thiểu đáng kể.
Thị trường (Market) bao gồm nhiều loại thị trường khác nhau:
– THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU (có rủi ro hệ thống của toàn bộ thị trường cổ phiếu – Market Risk)
– THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU (tương tự có rủi ro hệ thống của toàn bộ thị trường trái phiếu)
– THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN (rủi ro hệ thống của toàn bộ thị trường bất động sản)
– THỊ TRƯỜNG VÀNG ( rủi ro hệ thống của toàn bộ thị trường vàng)
– THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA( có rủi ro hệ thống của toàn bọ thị trường hàng hoa)
Trong thị trường trái phiếu, chúng ta có rủi ro thị trường đối với toàn bộ thị trường trái phiếu (ví dụ như biến động lãi suất, chính sách tiền tệ), và rủi ro riêng lẻ đối với từng mã trái phiếu cụ thể, chẳng hạn như rủi ro tín dụng hoặc rủi ro thanh khoản của từng tổ chức phát hành.
Mỗi loại tài sản đều tồn tại đồng thời rủi ro thị trường (systematic risk) và rủi ro riêng lẻ (idiosyncratic risk).
Mỗi loại tài sản đều tồn tại đồng thời rủi ro thị trường và rủi ro riêng lẻ.
DỄ HIỂU HƠN:
Với thị trường vàng và thị trường hàng hóa, cũng tương tự: luôn có yếu tố rủi ro hệ thống của toàn thị trường (ví dụ biến động kinh tế toàn cầu, lãi suất USD, địa chính trị) và rủi ro riêng lẻ của từng sản phẩm hoặc từng loại hàng hóa cụ thể.
Với thị trường vàng, cũng tồn tại rủi ro thị trường mang tính chất chung của toàn bộ thị trường vàng, và rủi ro riêng lẻ của từng giao dịch hoặc từng nguồn cung cụ thể.
– Rủi ro thị trường là những yếu tố tác động đến toàn bộ giá vàng, ví dụ như biến động lãi suất, biến động USD, lạm phát, hoặc các yếu tố địa chính trị toàn cầu.
– Rủi ro riêng lẻ là rủi ro phát sinh từ từng nguồn mua hoặc từng sản phẩm vàng cụ thể. Ví dụ, nếu chúng ta mua vàng từ những nguồn không uy tín, có thể gặp rủi ro chất lượng sản phẩm, rủi ro đối tác (counterparty risk) hoặc rủi ro pháp lý liên quan đến nguồn gốc và tính hợp pháp của vàng.
Nên khi đi đầu tư, chúng ta cần phải bóc tách phần BÙ RỦI RO (Risk Premium) rất kỹ để có thể hiểu đúng mức lợi tức mà thị trường đang trả cho từng loại rủi ro, từ đó hỗ trợ việc quản trị danh mục và phân bổ tài sản (asset allocation).
MARKET RISK (RỦI RO THỊ TRƯỜNG / RỦI RO HỆ THỐNG):
Các market risk này ở trên các thị trường phụ thuộc vào 4 yếu tố:
1. SỨC KHỎE CỦA NỀN KINH TẾ (ECONOMY PERFORMANCE) hay CHỈ SỐ CỦA NỀN KINH TẾ
Hai chỉ số quan trọng của nền kinh tế là GDP và lạm phát (tại sao hai chỉ số này quan trọng nhất, vì nó xác nhận lại thực trạng của nền kinh tế và từ đó chính phủ sẽ có tác động thông qua chính sách tiền tệ hoặc chính sách tài khóa). Ví dụ một hôm chỉ số lạm phát ra rất tệ thì ngay lập tức chị Hồng (thống đốc ngân hàng – sbv) sẽ thông báo nâng lãi suất => vì vậy chúng ta có yếu tố thứ 2:
2. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Chính sách tiền tệ có hai trạng thái: [thắt chặt và nới lỏng]. Nó không tác động trực tiếp đến các chỉ số kinh tế như GDP hay lạm phát, mà tác động thông qua cơ chế truyền dẫn như lãi suất, cung tiền, tín dụng và kỳ vọng thị trường. Từ đó, nó ảnh hưởng đến TỔNG CẦU và cuối cùng phản ánh vào tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Trong khi đó, chính sách tài khóa tác động thông qua chi tiêu chính phủ, thuế và đầu tư công, tức là tác động trực tiếp vào nền kinh tế thông qua ngân sách nhà nước, từ đó ảnh hưởng đến tổng cầu và các chỉ số kinh tế vĩ mô.
Tiền tệ: tác động theo chuỗi
Chính sách -> lãi suất -> hành vi vay/chi tiêu -> tổng cầu -> kinh tế
Ví dụ: Ngân hàng Trung ương tăng lãi suất
Chính sách tiền tệ (thắt chặt) -> Ngân hàng tăng lãi suất -> Doanh nghiệp vay tiền khó hơn + chi phí vay cao hơn -> Doanh nghiệp giảm đầu tư, người dân giảm mua nhà/mua xe -> Tiêu dùng và đầu tư giảm -> Kinh tế chậm lại (GDP giảm, lạm phát giảm)
Tài khóa: tác động trực tiếp
chi tiêu chính phủ -> tiền vào nền kinh tế -> cầu tăng ngay
Vd: Trợ cấp hoặc tăng lương công chức
Chính sách tài khóa (mở rộng)
-> Chính phủ tăng chi lương hoặc trợ cấp -> Người dân nhận thêm tiền trực tiếp -> Họ chi tiêu nhiều hơn vào hàng hóa và dịch vụ -> Tổng cầu tăng -> GDP tăng (kinh tế được kích thích) -> Nếu cầu tăng nhanh hơn cung -> lạm phát tăng
4. CUỐI CÙNG LÀ NHỮNG YẾU TỐ PHI THỊ TRƯỜNG
Tức là rủi ro trong thị trường ảnh hưởng đến tất cả thành viên ở trong thị trường nhưng không tồn tại trong thị trường tức là yếu tố rủi ro không xuất phát từ bản thân thị trường tài chính, nhưng lại có khả năng tác động mạnh đến toàn bộ thị trường và nền kinh tế. Như [CHÍNH TRỊ; THIÊN TAI; CHIẾN TRANH, DỊCH BỆNH…]
Điểm quan trọng là: những yếu tố này không thể dự đoán chính xác bằng mô hình kinh tế thông thường, nhưng khi xảy ra thì ảnh hưởng mang tính toàn hệ thống.
CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG
Khi một yếu tố THIÊN TAI, DỊCH BỆNH… xảy ra, nó không tác động thẳng ngay vào GDP hay lạm phát, mà đi theo một chuỗi lan truyền:
DỊCH BỆNH -> tác động đến tâm lý thị trường (fear / uncertainty) -> làm thay đổi hành vi tiêu dùng và đầu tư (ít tiêu dùng) -> ảnh hưởng đến tổng cầu (Aggregate Demand) -> từ đó tác động đến GDP và lạm phát (CPI)
PHẢN ỨNG CỦA NỀN KINH TẾ
Sau khi các chỉ số kinh tế GDP, CPI bị ảnh hưởng, chính phủ sẽ tác động điều tiết nền kinh tế thông qua:
– Chính sách tiền tệ (giảm lãi suất, bơm thanh khoản…)
– Chính sách tài khóa (tăng chi tiêu công, hỗ trợ kinh tế…)
Các yếu tố 1, 2, 3, 4 đều tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành một hệ thống vận hành liên thông.
Từ góc nhìn đầu tư, điều quan trọng không chỉ là nhận biết một cú sốc xảy ra, mà là hiểu rõ cơ chế truyền dẫn của nó trong toàn bộ nền kinh tế.
Dể hiểu hơn
Thông thường, một cú sốc xuất phát từ các yếu tố phi thị trường sẽ không tác động trực tiếp ngay đến GDP hay lạm phát, mà đi theo chuỗi: YẾU TỐ PHI THỊ TRƯỜNG -> tâm lý thị trường thay đổi -> hành vi tiêu dùng và đầu tư thay đổi -> tổng cầu thay đổi -> GDP và lạm phát biến động -> từ đó kích hoạt phản ứng chính sách của chính phủ. (mục tiêu của chính phủ là ổn định ngắn hạn và tăng trưởng dài hạn với GDP kế hoạch và Lạm Phát mục tiêu)
Phản ứng chính sách này diễn ra thông qua hai kênh chính là chính sách tiền tệ (Ngân hàng trung ương) và chính sách tài khóa (Bộ tài chính)
CHINH SÁCH TIỀN TỆ
Chính phủ => Ngân hàng trung ương => Lãi xuất điều hành =>lãi xuất thị trường => Ảnh hưởng đến phân bổ tài sản tài chính (Tiền gửi, vàng, cổ phiếu, trái phiếu, BĐS)
Trong nền kinh tế, Chính phủ thông qua Ngân hàng Trung ương điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định tăng trưởng. Từ đó, Ngân hàng Trung ương thiết lập lãi suất điều hành, đóng vai trò là tín hiệu định hướng cho thị trường.
Sự thay đổi của lãi suất điều hành sẽ được truyền dẫn sang lãi suất thị trường, bao gồm lãi suất huy động và cho vay trong hệ thống ngân hàng. Khi lãi suất thị trường thay đổi, chi phí vốn và tỷ lệ chiết khấu trong nền kinh tế cũng thay đổi, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định phân bổ tài sản của nhà đầu tư.
Cụ thể:
-Khi lãi suất tăng, tiền gửi trở nên hấp dẫn hơn, trong khi trái phiếu, cổ phiếu và bất động sản có xu hướng giảm giá do chi phí vốn tăng và dòng tiền bị chiết khấu mạnh hơn; vàng cũng chịu áp lực giảm do chi phí cơ hội tăng.
-Khi lãi suất giảm, dòng tiền có xu hướng dịch chuyển sang các tài sản rủi ro hơn như cổ phiếu, bất động sản và vàng, trong khi tiền gửi trở nên kém hấp dẫn.
TỶ GIÁ (BOP, IRP) = USD/VND – Đoạn này đọc cho biết thế thôi
Xem tỷ giá ở đây: https://www.tradingview.com/symbols/USDVND/
Ngân hàng Trung ương sử dụng chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát, từ đó điều chỉnh lãi suất. Khi lãi suất thay đổi, dòng vốn quốc tế sẽ dịch chuyển: lãi suất cao thu hút vốn vào, trong khi lãi suất thấp khiến vốn rút ra. Sự dịch chuyển này được ghi nhận trong cán cân thanh toán Balance of Payments (BOP), bao gồm cả cán cân thương mại (xuất nhập khẩu) và cán cân vốn.
Cụ thể, khi một quốc gia có thặng dư thương mại (xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu), cầu đối với nội tệ tăng lên, góp phần làm đồng nội tệ lên giá. Ngược lại, khi xảy ra thâm hụt thương mại, nhu cầu ngoại tệ tăng, tạo áp lực khiến nội tệ mất giá. Đồng thời, dòng vốn quốc tế (đầu tư trực tiếp và gián tiếp) cũng ảnh hưởng mạnh đến BOP: dòng vốn vào làm thặng dư, dòng vốn ra làm thâm hụt.
Bên cạnh đó, tỷ giá còn chịu ràng buộc bởi cơ chế Interest Rate Parity (IRP). Theo đó, chênh lệch lãi suất giữa hai quốc gia sẽ đi kèm với kỳ vọng biến động tỷ giá tương ứng, nhằm đảm bảo không tồn tại cơ hội kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage). Điều này có nghĩa là nếu một quốc gia có lãi suất cao hơn, thị trường sẽ kỳ vọng đồng tiền của quốc gia đó có xu hướng mất giá trong tương lai.
Như vậy, có thể thấy tỷ giá được hình thành từ hai nhóm yếu tố chính:
-Dòng tiền thực (BOP): phản ánh cung – cầu ngoại tệ từ thương mại và đầu tư
-Kỳ vọng tài chính (IRP): phản ánh chênh lệch lãi suất và kỳ vọng của thị trường
Sự kết hợp của hai yếu tố này quyết định xu hướng tăng hoặc giảm của tỷ giá trong ngắn hạn và dài hạn.
Cuối cùng, biến động tỷ giá sẽ tác động đến các lớp tài sản tài chính. Đồng nội tệ mất giá thường làm tăng giá vàng, gây áp lực lên trái phiếu (do vốn ngoại rút ra), và tạo ra sự phân hóa trong thị trường cổ phiếu giữa doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu. Ngược lại, khi nội tệ mạnh lên, dòng vốn có xu hướng quay trở lại, hỗ trợ thị trường tài chính.
CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ:
Chính phủ, nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP theo kế hoạch, sẽ sử dụng chính sách tài khóa để điều tiết nền kinh tế. Chính sách này bao gồm hai phần chính: nguồn thu (thuế, phí) và nguồn chi (chi tiêu công, đầu tư phát triển).
Khi Chính phủ muốn thúc đẩy tăng trưởng, họ thường tăng chi tiêu hoặc giảm thuế, từ đó làm tổng cầu tăng lên. Tuy nhiên, khi chi lớn hơn thu, nền kinh tế rơi vào trạng thái thâm hụt ngân sách. Để bù đắp phần thâm hụt này, Chính phủ phải phát hành trái phiếu để huy động vốn từ thị trường.
Việc phát hành trái phiếu làm tăng cầu vốn trong nền kinh tế, khiến Chính phủ cạnh tranh nguồn vốn với khu vực tư nhân. Điều này tạo áp lực làm lãi suất thị trường tăng lên (hiệu ứng lấn át – crowding out).
Khi lãi suất tăng, chi phí vay vốn của doanh nghiệp và người dân cao hơn, đồng thời tỷ lệ chiết khấu trong định giá tài sản cũng tăng lên. Vì vậy, lãi suất có tác động trực tiếp đến các tài sản tài chính:
– Trái phiếu: giá giảm khi lãi suất tăng
– Cổ phiếu: định giá giảm do chiết khấu cao hơn
– Bất động sản: cầu giảm do chi phí vay tăng
– Vàng: giảm do chi phí cơ hội tăng
– Tiền gửi: trở nên hấp dẫn hơn
Nói một cách ngắn gọn và đúng bản chất: khi các chỉ số kinh tế như GDP và lạm phát thay đổi, Chính phủ sẽ phản ứng thông qua hai công cụ chính là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, và kênh truyền dẫn quan trọng nhất của hai chính sách này chính là lãi suất.
Vì vậy, khi lãi suất thay đổi, nó sẽ tác động đến toàn bộ hệ thống tài sản trong nền kinh tế, bao gồm tiền gửi, trái phiếu, cổ phiếu, vàng và bất động sản. Lãi suất thực chất là “giá của vốn”, nên khi giá vốn thay đổi thì định giá của tất cả các tài sản đều phải điều chỉnh theo.
Từ góc nhìn đầu tư, chúng ta không dừng lại ở việc quan sát hiện tại, mà phải đi một bước trước: dự phóng xu hướng của GDP và lạm phát, từ đó suy luận ra hướng đi của chính sách, và cuối cùng là dự báo biến động của lãi suất để phân bổ danh mục hợp lý, giảm thiểu rủi ro.
Bất kỳ sự thay đổi nào của lãi suất cũng sẽ lan tỏa đến tất cả các lớp tài sản: tiền gửi chịu ảnh hưởng trực tiếp về mức sinh lời; trái phiếu biến động theo quan hệ nghịch với lãi suất; cổ phiếu bị tác động thông qua chi phí vốn và định giá; bất động sản nhạy cảm với tín dụng; còn vàng phản ứng với lãi suất thực và kỳ vọng vĩ mô.
Bên cạnh lãi suất, tỷ giá đóng vai trò là một kênh truyền dẫn quan trọng bổ sung. Tỷ giá ảnh hưởng đến dòng vốn quốc tế, chi phí nhập khẩu, khả năng cạnh tranh xuất khẩu và lợi nhuận doanh nghiệp, từ đó gián tiếp tác động đến các thị trường tài sản.
Xét về công cụ điều hành, chính sách tiền tệ chủ yếu tác động đến lãi suất, thanh khoản và tỷ giá. Trong khi đó, chính sách tài khóa tác động thông qua thuế, chi tiêu công và vay nợ của Chính phủ, qua đó cũng ảnh hưởng ngược lại đến mặt bằng lãi suất trên thị trường.
Từ toàn bộ khung này, nhà đầu tư có thể phân biệt rõ hai loại rủi ro. Rủi ro thị trường (systematic risk) là những biến động mang tính hệ thống, ảnh hưởng đồng loạt đến tất cả tài sản và không thể loại bỏ bằng đa dạng hóa. Ngược lại, rủi ro riêng lẻ (Specific risk) gắn với từng doanh nghiệp hoặc từng tài sản cụ thể và có thể giảm thiểu thông qua phân bổ danh mục hợp lý.
Hiểu được chuỗi liên kết từ GDP, lạm phát -> chính sách -> lãi suất -> tài sản chính là nền tảng để chuyển từ “đầu tư cảm tính” sang “đầu tư có hệ thống”.
Bài viết được trích xuất và lưu trữ từ trang chính thức CMB Investing – Cố Vấn Đầu Tư VPS. Xem bài viết gốc trên Facebook ↗
Mỗi ấn phẩm Tạp Chí CMB được chắt lọc từ những chiêm nghiệm sống và phân tích đầu tư thực chiến, nhằm đồng hành cùng các anh chị trên con đường tự do tài chính.