SERIES ĐỌC VỊ VĨ MÔ TRONG PHÂN TÍCH – VÀNG – CHỨNG KHOÁN – BĐS
Phần 2: Chính sách tiền tệ - tài khoá và kết hợp tiền tệ…
SERIES ỨNG DỤNG VĨ MÔ ĐẦU TƯ:
Tiền gửi – Vàng – Cổ phiếu – Trái phiếu – BĐS
Bắt đầu từ nguồn gốc vấn đế:
Tôi có một mảnh đất khá là rộng. Trên mảnh đất đó có tài nguyên, có con người, và từ đây ta bắt đầu hình dung ra một nền kinh tế thu nhỏ. Mọi thứ trong kinh tế thực chất xoay quanh việc: làm sao sử dụng nguồn lực hữu hạn (đất, lao động, vốn) để tạo ra nhiều giá trị nhất.
(nếu a/c muốn thảo luận hay có câu hỏi gì: Zalo 0962721995 – Vin Mac)
Bài viết này chúng ta hiểu về:
– CUNG TIỀN
– DỰ TRỮ BẮT BUỘC
– DỰ TRỮ VƯỢT MỨC
– TĂNG GIẢM DỰ TRỮ (BƠM/HÚT TIỀN)
– ROOM TÍN DỤNG …
Và a/c sẽ hiểu thêm
Nếu một nền kinh tế muốn tăng trưởng 8% GDP thực, trong khi lạm phát ổn định ở mức 4%, thì về lý thuyết lượng cung tiền cần tăng khoảng:
8% + 4% = 12% để đáp ứng nhu cầu giao dịch của nền kinh tế.
Ngược lại, nếu cung tiền tăng quá thấp so với nhu cầu của nền kinh tế thì có thể dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản, lãi suất tăng và gây áp lực lên tăng trưởng.
Chúng ta sẽ đi theo trình tự:
I: CUNG TIỀN VÀ CẦU TIỀN.
II: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG – ĐỘC LẬP HAY PHỤ THUỘC.
III: CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA.
IV: TỶ GIÁ.
(Hôm nay chúng ta giải quyết vấn đề I)
Đưới đây là cấu trúc về series này để làm sao sau khi đọc a/c có thể tự đầu tư được:
Phần 1: CHÚNG TA NẮM ĐƯỢC TỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ VÀ CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ
Phần 2: GDP VÀ LẠM PHÁT (chỉ sổ cơ bản để phản ánh sức khỏe và hiện trạng của một nền kinh tế, là chỉ số báo sau xác nhận trạng thái của nền kinh tế từ đó Chính phủ thông qua chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ từ đó ảnh hưởng tới lãi xuất -> ảnh hưởng tới các lớp tài sản.
=> PHẦN A
Phần 3: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ TỶ GIÁ (hính sách tiền tệ và những vấn đề liên quan như cơ chế cung tiền, hệ thống tổ chức Ngân hàng Trung ương, những công cụ của Chính sách Tiền tệ)
Phần 4: CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ SỰ PHỐI HỢP VỚI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ (Chính sách Tài khóa và những vấn đề liên quan như Chính sách Tài khóa bắt nguồn từ Học thuyết Keynes, thế nào là Chính sách Tài khóa mở rộng và thắt chặt.,vấn đề về thu – chi Ngân sách Nhà nước và vấn đề nợ công của một quốc gia)
=> PHẦN B
Phần 5: CÁC LỚP TÀI SẢN VÀ CHU KỲ ĐẦU TƯ (ác động của lãi suất đến các lớp tài sản Hiểu đươc tác động của lãi suất đến các lớp tài sản cụ thể như Tiền gửi, ngoại tệ, vàng và bất động sản)
Phần 6: LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH & XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ THEO HỒ SƠ RỦI RO.
=> PHẦN C
Phần trước:
https://www.facebook.com/share/p/19LvL6iQMr/ https://www.facebook.com/share/p/1aMtM5MTJ1/
Phần A: https://www.facebook.com/share/p/1cG3PUbHyg/
…
Rồi, bài viết trước chúng ta có hiểu qua đường CUNG TIỀN và ĐƯỜNG CẦU TIỀN và tại sao đường CUNG TIỀN thì lại THẲNG ĐỨNG mà không vắt chéo như đường cung thông thường.
https://www.facebook.com/share/p/19LvL6iQMr/
Nói lại một chút có vẻ học thuật hơn chúng ta có:
Đường cung tiền (Money Supply – M) được biểu diễn là một đường thẳng đứng trong các mô hình kinh tế vĩ mô cơ bản (như mô hình Ưa thích thanh khoản – Liquidity Preference Theory) vì lượng tiền cung ứng mang tính ngoại sinh (exogenous).
Nói một cách dễ hiểu, có 2 nguyên nhân cốt lõi giải thích cho đặc điểm này:
1. Quyền Lực Độc Tôn Của Ngân Hàng Trung Ương (NHTW)
– Lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế không được quyết định bởi hành vi của người dân hay doanh nghiệp, mà do NHTW chủ động ấn định.
– Tại bất kỳ một thời điểm nào, lượng tiền cung ứng đã được xác định trước thông qua các công cụ chính sách tiền tệ (như mua/bán giấy tờ có giá qua OMO, phát hành tín phiếu, hay thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc).
2. Tính Độc Lập Hoàn Toàn Với Lãi Suất Thị Trường
– Đây là yếu tố quyết định hình dạng đồ thị: Lượng tiền cung ứng hoàn toàn không co giãn theo lãi suất.
– Dù lãi suất trên thị trường tăng vọt hay giảm sâu, lượng tiền mặt mà NHTW đưa ra nền kinh tế vẫn giữ nguyên không đổi tại mức đã ấn định (trừ khi NHTW chủ động ra quyết định điều chỉnh nới lỏng hay thắt chặt).
Tóm lại trên đồ thị: Với Trục tung (r) là Lãi suất và Trục hoành (M) là Lượng tiền: Vì lượng tiền M là một con số cố định không thay đổi theo biến số r, nên đồ thị biểu diễn cung tiền sẽ là một đường thẳng đứng song song với trục lãi suất và cắt trục hoành tại điểm lượng tiền do NHTW ấn định.
Chúng ta hãy quay lại ở đây
Thị trường tài chính sẽ có cung tiền và cầu tiền. Từ thị trường tài chính sẽ phát sinh nhu cầu vay vốn để phục vụ cho sản xuất kinh doanh ở thị trường hàng hóa. Với mức lãi suất thấp thì người ta muốn vay nhiều hơn, còn với mức lãi suất cao thì người ta muốn vay ít hơn. Nhưng muốn vay thì phải có người cung cấp tiền cho họ chứ, và tiền đó được sử dụng để phục vụ sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế.
Nếu lượng tiền được cung cấp quá dư thừa so với nhu cầu thực tế thì cuối cùng nó sẽ gây ra lạm phát. Rất đơn giản như vậy thôi.
Chính vì vậy, đường cung tiền được vẽ thẳng đứng, bởi vì ở mỗi thời điểm Ngân hàng Nhà nước quyết định chỉ cung ứng một lượng tiền nhất định cho nền kinh tế. Tí nữa chúng ta sẽ cùng xem lượng tiền đó được tạo ra như thế nào và Ngân hàng Nhà nước điều tiết nó bằng những công cụ gì.
Bây giờ chúng ta sẽ xem đây là một lượng tiền mà Ngân hàng Nhà nước cho là tối ưu cho nền kinh tế. Tý nữa chúng ta sẽ đóng vai các thống đốc để quyết định xem nền kinh tế cần bao nhiêu tiền. Muốn làm được điều đó thì chúng ta phải nắm được nhu cầu của nền kinh tế, tức là đường cầu tiền.
Vậy Ngân hàng Trung ương căn cứ vào đâu để quyết định tăng cung tiền lên bao nhiêu? Rồi, chúng ta cùng đi trả lời câu hỏi này.
CĂN CỨ VÀO ĐÂU? (XEM HÌNH G)
Chúng ta đã học mô hình cung cầu rồi, nên bây giờ chúng ta sẽ bắt đầu đi từ phía cầu.
CẦU TIỀN
Cầu tiền thì sẽ có hai trường hợp.
Trường hợp thứ nhất là khi GDP tăng. Tức là lượng hàng hóa, hiệu ứng thu nhập và toàn bộ hoạt động của nền kinh tế đều phát triển thì cầu tiền sẽ tăng lên.
Tôi lấy ví dụ ở đây, đường cầu đang là màu xanh đúng không ạ. Khi nền kinh tế tăng trưởng thì đường cầu tiền sẽ dịch chuyển sang bên phải. Tương ứng với đó chúng ta có đường cung tiền thẳng đứng màu đỏ.
Chúng ta có Cầu tiền 1 (CT1), lưu ý đây là cầu tiền nhé, không phải cung cầu hàng hóa trong nền kinh tế.
Ở đây mọi người thấy điều gì ạ?
Chúng ta cứ tư duy logic bình thường thôi. Khi tôi muốn phát triển sản xuất kinh doanh, tôi muốn đầu tư nhiều hơn, muốn tiêu dùng nhiều hơn mà lượng cung tiền trong nền kinh tế vẫn đứng yên thì lãi suất sẽ tăng. Rất đơn giản.
Bởi vì lúc này nhu cầu vay vốn của toàn bộ nền kinh tế tăng lên trong khi lượng tiền cung ứng không đổi. Khi nhiều người cùng muốn vay một lượng tiền cố định thì giá của tiền, tức là lãi suất, sẽ tăng lên.
Mọi người có thấy sự kiện nào giống như vậy trong thực tế gần đây không ạ?
Khi GDP tăng trưởng thì cầu tiền gần như lúc nào cũng cao hơn. Chúng ta hãy nhớ rằng GDP là một chỉ báo trễ (lagging indicator). Khi GDP đã tăng trưởng mạnh thì điều đó phản ánh rằng nhu cầu về vốn, nhu cầu đầu tư và nhu cầu giao dịch trong nền kinh tế đã tăng lên từ trước đó.
Do đó, khi GDP tăng trưởng thì nhu cầu tiền cũng tăng theo. Nếu Ngân hàng Trung ương không tăng cung tiền tương ứng thì lãi suất sẽ có xu hướng tăng lên.
Đây chính là lý do vì sao các Ngân hàng Trung ương luôn phải theo dõi tăng trưởng kinh tế. Nếu nền kinh tế mở rộng, sản xuất nhiều hơn, tiêu dùng nhiều hơn mà lượng tiền không tăng tương ứng thì chi phí vốn sẽ tăng và cuối cùng có thể làm chậm lại tăng trưởng của nền kinh tế.
Rồi, vấn đề số hai là khi lạm phát tăng. (HÌNH G)
Tương tự, chúng ta cũng có mô hình như trên. Khi lạm phát tăng mà cung tiền đứng im thì chúng ta sẽ nhìn thấy rằng lãi suất sẽ tăng, tức là đường cầu tiền sẽ dịch sang bên phải.
Khi chúng ta học vĩ mô thì sẽ có rất nhiều phần logic, sau đó chúng ta sẽ dùng những phần logic đó để kết hợp với số liệu thực tế.
Mọi người có thấy không ạ, khi nhu cầu sản xuất tăng lên, GDP tăng trưởng, mọi hoạt động trong nền kinh tế đều mở rộng thì mọi người sẽ có nhu cầu về tiền cao hơn. Điều này rất đơn giản thôi, doanh nghiệp sẽ muốn vay nhiều hơn để sản xuất kinh doanh vì nền kinh tế đang tăng trưởng.
Đầu tiên chúng ta phải xem logic của mô hình có vướng mắc gì không đã. Rồi, case số 1 có ai bị vướng không ạ?
Bây giờ đến case số 2 là khi lạm phát tăng. Khi lạm phát tăng thì với cùng một lượng hàng hóa và dịch vụ, mọi người sẽ cần nhiều tiền hơn để giao dịch. Điều này gần như là chắc chắn đúng.
Ví dụ như trước đây một bữa ăn có giá 50.000 đồng, bây giờ giá tăng lên 60.000 đồng. Như vậy với cùng một nhu cầu tiêu dùng, lượng tiền cần thiết để thực hiện giao dịch đã tăng lên. Khi điều này diễn ra trên toàn bộ nền kinh tế thì nhu cầu tiền cũng sẽ tăng lên và đường cầu tiền sẽ dịch chuyển sang bên phải.
Rồi, ở góc độ của Chính phủ hay Ngân hàng Trung ương, chúng ta có tác động trực tiếp được vào cầu tiền không ạ?
Câu trả lời là không.
Chúng ta không thể bắt người dân ngừng vay khi họ đang cần vốn để sản xuất kinh doanh. Chúng ta cũng không thể bắt doanh nghiệp ngừng đầu tư khi họ nhìn thấy cơ hội kiếm lợi nhuận.
Nói cách khác, cầu tiền phản ánh nhu cầu thực tế của nền kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng hoặc khi lạm phát tăng thì nhu cầu đó sẽ tự nhiên tăng lên.
Thứ mà Ngân hàng Trung ương có thể tác động được không phải là cầu tiền mà là cung tiền.
Mọi người phải nhớ điểm này nhé.
Cầu tiền là nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.
Còn cung tiền là lượng tiền được cung ứng cho nền kinh tế.
Người ta đang cần vay thì kể cả lãi suất cao hơn họ vẫn có thể chấp nhận vay. Chính vì vậy, trong các công cụ điều hành của mình, Ngân hàng Trung ương chủ yếu tác động vào cung tiền chứ không tác động trực tiếp vào cầu tiền.
Và đây cũng chính là điểm xuất phát của toàn bộ chính sách tiền tệ mà chúng ta sẽ học ở các phần tiếp theo.
Chúng ta chỉ tác động đến lượng cung tiền, nên chúng ta hãy nhớ lúc nãy chúng ta có hai trường hợp là mở rộng và thu hẹp.
Nào, bây giờ chúng ta sẽ đi đến chính sách mở rộng và thu hẹp của chính sách tiền tệ. Đây là phần quan trọng mà chúng ta cần phải học hôm nay.
Chúng ta sẽ quay trở lại mô hình cung tiền và cầu tiền. (XEM HÌNH G)
Mở rộng có nghĩa là Ngân hàng Trung ương tăng lượng cung tiền cho nền kinh tế. Trên đồ thị, đường cung tiền sẽ dịch chuyển sang bên phải. Khi đó chúng ta sẽ thấy lãi suất từ mức cũ là i1 giảm xuống mức mới là i2.
Ngược lại, thu hẹp có nghĩa là Ngân hàng Trung ương giảm lượng cung tiền trong nền kinh tế. Đường cung tiền sẽ dịch chuyển sang bên trái và lãi suất sẽ tăng lên.
Mọi người thấy như thế nào ạ?
Khi chúng ta mở rộng cung tiền thì lãi suất lập tức thay đổi. Điều này có logic không ạ?
Chúng ta hãy nhớ lại rằng chính sách tiền tệ về bản chất chỉ làm một việc: hoặc mở rộng cung tiền hoặc thu hẹp cung tiền.
Khi cung tiền tăng, tiền trong nền kinh tế trở nên dồi dào hơn, nên giá của tiền là lãi suất sẽ giảm.
Ngược lại, khi cung tiền giảm, tiền trở nên khan hiếm hơn, nên lãi suất sẽ tăng.
Như vậy, chúng ta có thể tóm tắt chuỗi tác động như sau:
Chính sách tiền tệ mở rộng -> cung tiền tăng -> lãi suất giảm -> đầu tư tăng -> tiêu dùng tăng -> tổng cầu tăng.
Ngược lại:
Chính sách tiền tệ thắt chặt -> cung tiền giảm -> lãi suất tăng -> đầu tư giảm -> tiêu dùng giảm -> tổng cầu giảm.
Và bây giờ chúng ta hãy nhớ một điều rất quan trọng: chính sách tiền tệ không tác động trực tiếp vào GDP hay lạm phát. Nó tác động trước tiên vào cung tiền, sau đó làm thay đổi lãi suất, rồi mới truyền dẫn sang đầu tư, tiêu dùng và cuối cùng là tổng cầu của nền kinh tế.
Đến đây chúng ta sẽ nhìn thấy mô hình của thị trường bắt đầu vận hành.
Hai biến số quan trọng nhất mà chúng ta vẫn nhắc đi nhắc lại từ đầu đến giờ chính là GDP và lạm phát.
Khi GDP tăng trưởng, nền kinh tế mở rộng, doanh nghiệp muốn đầu tư nhiều hơn, người dân muốn tiêu dùng nhiều hơn thì nhu cầu về tiền sẽ tăng.
Khi lạm phát tăng, cùng một lượng hàng hóa và dịch vụ sẽ cần nhiều tiền hơn để giao dịch, nên nhu cầu về tiền cũng tăng.
Nói cách khác, cả GDP tăng và lạm phát tăng đều có xu hướng làm đường cầu tiền dịch chuyển sang bên phải.
Chính vì vậy, Ngân hàng Trung ương luôn phải theo dõi rất sát hai biến số này. Nếu GDP và lạm phát cùng tăng mà cung tiền không thay đổi thì lãi suất sẽ có xu hướng tăng lên. Ngược lại, nếu muốn giữ lãi suất ổn định hoặc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thì Ngân hàng Trung ương sẽ phải cân nhắc việc mở rộng cung tiền tương ứng với nhu cầu của nền kinh tế.
Nếu chúng ta theo dõi thị trường thì sẽ có những giai đoạn GDP tăng, lạm phát cũng tăng nhưng cung tiền lại thu hẹp. Mọi người có biết điều gì xảy ra không ạ?
Khi đó lãi suất sẽ tăng. (Cái này nếu a/c đọc k hiểu có thể dùng chat GPT nhờ giải thích, vì ở đây tôi muốn viết ngắn gọn và cái gốc nhất)
Thế thì logic ở đây chúng ta sẽ nhìn thấy rằng cái mà Ngân hàng Trung ương có thể can thiệp được chính là cung tiền.
Ví dụ như giai đoạn vừa rồi, khi Ngân hàng Nhà nước bán ngoại tệ để ổn định tỷ giá thì họ sẽ thu tiền đồng về. Nói cách khác, họ bán ngoại tệ ra và hút tiền đồng vào, làm cho cung tiền giảm xuống.
Nào, chúng ta cùng ôn lại một chút.
Trong thị trường tài chính hay trong nền kinh tế sẽ có đường cung tiền và đường cầu tiền.
Đường cầu tiền thì dốc xuống. Lãi suất càng cao thì nhu cầu vay tiền càng thấp, còn lãi suất càng thấp thì nhu cầu vay tiền càng cao.
Ngược lại, đường cung tiền là một đường thẳng đứng vì nó do Ngân hàng Trung ương kiểm soát. Ngân hàng Trung ương quyết định sẽ cung ứng bao nhiêu tiền cho nền kinh tế, chứ không phải thị trường tự quyết định lượng tiền này.
Bây giờ chúng ta sẽ học với nhau xem cung tiền thực chất là gì.
(XEM HÌNH H)
Đây là một phần tương đối khó nên mọi người cần tập trung một chút.
Muốn hiểu cung tiền thì chúng ta phải nhìn toàn bộ hệ thống tài chính.
Trong một nền kinh tế sẽ có ba người chơi chính.
Người chơi thứ nhất là Ngân hàng Trung ương (NHTW).
Ngân hàng Trung ương cũng giống như bất kỳ tổ chức nào khác, họ có một bảng cân đối kế toán.
Bên trái gọi là tài sản có, tức là những tài sản mà họ đang nắm giữ.
Bên phải gọi là tài sản nợ, tức là những nghĩa vụ phải trả của họ.
Người chơi thứ hai là hệ thống ngân hàng thương mại.
Các ngân hàng thương mại cũng có bảng cân đối kế toán riêng với tài sản có và tài sản nợ.
Người chơi thứ ba chính là hệ thống người gửi tiền, tức là chúng ta, các hộ gia đình và các doanh nghiệp.
Chúng ta cũng có tài sản và nợ phải trả.
Tại sao phải chia nền kinh tế thành ba nhóm này?
Bởi vì khi Ngân hàng Trung ương bơm tiền hoặc hút tiền khỏi nền kinh tế thì tiền không tự nhiên xuất hiện hoặc biến mất. Nó sẽ luôn đi từ bảng cân đối kế toán của một chủ thể này sang bảng cân đối kế toán của một chủ thể khác.
Chính vì vậy, muốn hiểu cung tiền được tạo ra như thế nào, tăng lên như thế nào hay giảm xuống như thế nào thì chúng ta bắt buộc phải theo dõi mối quan hệ giữa ba người chơi này: Ngân hàng Trung ương, hệ thống ngân hàng thương mại và người dân/doanh nghiệp.
Đây chính là nền tảng để chúng ta hiểu các công cụ điều hành của Ngân hàng Trung ương ở các phần tiếp theo như nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn hay can thiệp tỷ giá.
—
Rồi, tôi lại nhắc lại để a/c vừa đọc có thể nắm bắt đc luôn
Cung tiền là gì?
Bây giờ chúng ta sẽ đi học với nhau về cung tiền là gì.
Đây là một phần khá khó và rất quan trọng, nên mọi người cố gắng tập trung một chút nhé. Nếu hiểu được phần này thì sau này khi nghe những cụm từ như "Ngân hàng Nhà nước bơm tiền", "hút tiền", "nới lỏng tiền tệ", "thắt chặt tiền tệ"… mọi người sẽ hiểu ngay chuyện gì đang xảy ra trong nền kinh tế.
Để hiểu được cung tiền, trước tiên chúng ta phải hiểu trong một nền kinh tế có những ai tham gia.
Ba người chơi trong nền kinh tế
Đơn giản hóa ra, chúng ta có ba người chơi chính:
Thứ nhất là Ngân hàng Trung ương (NHTW).
Ở Việt Nam chính là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Thứ hai là hệ thống ngân hàng thương mại.
Ví dụ như Vietcombank, BIDV, VietinBank, Techcombank…
Thứ ba là người dân và doanh nghiệp.
Tức là tất cả chúng ta, những người gửi tiền, vay tiền, sản xuất và kinh doanh.
Bây giờ cả ba người chơi này đều có một thứ gọi là bảng cân đối kế toán.
Mọi người cứ hiểu đơn giản thế này:
– Bên trái gọi là Tài sản có.
– Bên phải gọi là Tài sản nợ.
Nếu nói theo ngôn ngữ đời thường:
– Tài sản có là những gì mình đang sở hữu.
– Tài sản nợ là những gì mình đang nợ người khác.
Ví dụ:
Bạn có 100 triệu trong tài khoản ngân hàng.
Thì 100 triệu đó là tài sản có của bạn.
Nếu bạn vay ngân hàng 500 triệu để mua nhà.
Thì 500 triệu đó là tài sản nợ của bạn.
Hiểu đơn giản như vậy là được.
Để hiểu được cung tiền được tạo ra như thế nào, chúng ta phải nhìn đầu tiên vào bảng cân đối của Ngân hàng Trung ương xem họ đang có những gì.
Nhìn vào phía tài sản nợ trước.
Ở đây có một thứ rất quan trọng là tiền giấy lưu hành, thường được ký hiệu là C (Currency).
Nhiều người sẽ thắc mắc: "Tiền là tài sản mà, tại sao lại nằm bên tài sản nợ?"
Đó là vì chúng ta đang nhìn từ góc độ của Ngân hàng Trung ương.
Ngày xưa, khi thế giới còn sử dụng chế độ bản vị vàng, mỗi tờ tiền phát hành ra đều được bảo đảm bằng một lượng vàng tương ứng.
Ví dụ Ngân hàng Trung ương có 100 kg vàng thì họ có thể phát hành một lượng tiền giấy tương ứng.
Khi người dân cầm tờ tiền đến, về mặt lý thuyết họ có quyền đổi tờ tiền đó lấy vàng. Vì vậy tờ tiền chính là một cam kết của Ngân hàng Trung ương, mà đã là cam kết phải thực hiện thì trong kế toán nó được ghi nhận là một khoản nợ.
Cho nên ngày xưa:
– Bên tài sản có là vàng.
– Bên tài sản nợ là tiền giấy phát hành.
Tiền chính là nợ của Ngân hàng Trung ương.
Còn ngày nay thì các Ngân hàng Trung ương không còn dựa chủ yếu vào vàng để phát hành tiền nữa.
Thay vào đó, bên tài sản có của họ thường là:
– Trái phiếu Chính phủ.
– Chứng khoán Chính phủ.
– Dự trữ ngoại hối.
– Vàng dự trữ.
– Hoặc các khoản cho vay đối với hệ thống ngân hàng.
Nói cách khác, khi nhìn vào bảng cân đối của Ngân hàng Trung ương, chúng ta sẽ thấy một bên là các tài sản như trái phiếu, chứng khoán, ngoại hối…, còn bên kia là lượng tiền mà họ đã phát hành ra nền kinh tế.
Đó chính là điểm xuất phát để chúng ta hiểu cung tiền được tạo ra như thế nào.
Điểm quan trọng nhất
Mọi người hãy nhớ một ý:
Tiền không tự nhiên sinh ra.
Mỗi khi Ngân hàng Trung ương tạo thêm tiền thì ở bên tài sản có phải xuất hiện một thứ gì đó tương ứng.
Ví dụ:
Ngân hàng Trung ương mua 100 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ.
Khi đó:
Bên tài sản có:
+ 100 tỷ trái phiếu.
Đồng thời bên tài sản nợ:
+ 100 tỷ tiền mới được tạo ra.
Nói cách khác:
Ngân hàng Trung ương đã "bơm" thêm 100 tỷ đồng vào nền kinh tế.
Đây chính là điểm khởi đầu của quá trình tạo ra cung tiền.
Trong bài tiếp theo chúng ta sẽ học tiếp cách mà hệ thống ngân hàng thương mại nhận số tiền này và biến nó thành lượng tiền lớn hơn nhiều lần thông qua hoạt động cho vay. Đó mới là lúc cung tiền thực sự được mở rộng trong nền kinh tế.
Nếu bạn vẫn thấy chưa hiểu thì tôi sẽ tiếp tục nói lại:
Rồ ở đây tôi xin đi lại một chút để chúng ta vừa đọc lại có thể nhớ được luôn:
Bây giờ chúng ta sẽ đi học với nhau về cung tiền là gì.
Bây giờ chúng ta đi vào một phần mà cần rất tập trung vì nó hơi khó.
Một nền kinh tế sẽ có ba người chơi. Bây giờ chúng ta đang đi đến vấn đề cung tiền.
Thứ nhất là NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG (NHTW). Ngân hàng Trung ương sẽ có bảng cân đối kế toán. Bên trái người ta gọi là tài sản có, bên phải người ta gọi là tài sản nợ.
Tiếp theo là HỆ THỐNG NGÂN HÀNG. Hệ thống ngân hàng cũng có tài sản có và tài sản nợ.
Thứ ba là HỆ THỐNG NGƯỜI GỬI TIỀN, đó chính là chúng ta hoặc các doanh nghiệp. Ở đây cũng có tài sản có và tài sản nợ.
Để hiểu được CUNG TIỀN thì đầu tiên chúng ta phải nhìn vào BẢNG CÂN ĐỐI CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG xem họ có những gì.
Đầu tiên, bên tài sản nợ có tiền giấy lưu hành, hay chúng ta viết tắt là C (Currency).
Để đảm bảo cho lượng tiền giấy đó thì bên tài sản có họ sẽ nắm giữ các loại chứng khoán, trái phiếu hoặc những tài sản tài chính khác.
Ở đây chúng ta phải hiểu một chút về lịch sử tiền tệ.
Trước đây, theo mô hình ngân hàng cũ, tài sản có chủ yếu là vàng. Có nghĩa là tôi có vàng và tôi phát hành tiền giấy tương ứng với lượng vàng đó.
Ở đây dễ hiểu chưa ạ?
Tiền thực chất là một khoản nợ của Ngân hàng Trung ương. Người cầm tờ tiền đang nắm giữ một nghĩa vụ thanh toán do Ngân hàng Trung ương phát hành.
Tuy nhiên ngày nay chúng ta không còn sử dụng chế độ bản vị vàng nữa.
Thay vào đó, tài sản có của các Ngân hàng Trung ương chủ yếu là các loại chứng khoán và trái phiếu.
Rồi tiếp theo:
Như vậy, bên tài sản có là các chứng khoán và trái phiếu, còn bên tài sản nợ ngoài tiền giấy lưu hành thì họ còn có thêm một khoản rất quan trọng là DỰ TRỮ.
Chỗ này hơi khó hiểu.
Tiền giấy thì đã rất dễ hiểu rồi, nhưng phần dự trữ thì mọi người phải hình dung rằng giữa Ngân hàng Trung ương và hệ thống ngân hàng thương mại luôn có các tài khoản thanh toán với nhau.
Các ngân hàng thương mại đều có tài khoản mở tại Ngân hàng Trung ương. Số dư trên các tài khoản này được gọi là DỰ TRỮ
Vì vậy, nếu đứng từ góc nhìn của hệ thống ngân hàng THƯƠNG MẠI thì khoản dự trữ này là tài sản của họ.
Nhưng nếu đứng từ góc nhìn của Ngân hàng Trung ương thì đây lại là một khoản nợ phải trả cho hệ thống ngân hàng, nên nó nằm ở bên tài sản nợ.
Nói cách khác:
Dự trữ của ngân hàng thương mại = Nợ của Ngân hàng Trung ương.
Ở đây chúng ta đang nói về cấu trúc chung của các Ngân hàng Trung ương trên thế giới. Riêng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) thì chúng ta sẽ học riêng ở phần sau.
Chúng ta sẽ có hai loại dự trữ.
Thứ nhất là DỰ TRỮ BẮT BUỘC.
Đây là phần tiền mà ngân hàng thương mại buộc phải gửi tại Ngân hàng Trung ương theo quy định.
Thứ hai là DỰ TRỮ VƯỢT MỨC.
Đây là phần dự trữ ngân hàng giữ thêm ngoài mức bắt buộc để đảm bảo thanh khoản hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh.
Như vậy, toàn bộ dự trữ mà các ngân hàng gửi tại Ngân hàng Trung ương sẽ xuất hiện ở bên tài sản nợ của bảng cân đối Ngân hàng Trung ương.
Ngược lại, bên tài sản có của Ngân hàng Trung ương sẽ chủ yếu gồm hai nhóm lớn.
Một là các chứng khoán, trái phiếu mà họ đang nắm giữ.
Hai là các khoản cho vay đối với hệ thống ngân hàng thương mại.
Mọi người có thể nhìn thấy một sự đối ứng rất thú vị.
Tiền giấy lưu hành sẽ đối ứng với các tài sản như chứng khoán và trái phiếu.
Còn dự trữ của hệ thống ngân hàng sẽ đối ứng với các khoản cho vay hoặc các tài sản tài chính khác của Ngân hàng Trung ương.
Hiểu được bảng cân đối này là bước đầu tiên để hiểu được cung tiền được tạo ra như thế nào và tại sao chỉ cần Ngân hàng Trung ương mua hoặc bán một tài sản nào đó thì lượng tiền trong nền kinh tế có thể thay đổi.
Cái DỰ TRỮ này viết tắt là (R).
Bây giờ chúng ta bắt đầu thử một giao dịch giữa Ngân hàng Trung ương và một ngân hàng thương mại. (XEM HÌNH H)
Chúng ta sẽ tách từng giao dịch một để nhìn thật rõ cơ chế tạo ra cung tiền. (HÌNH H)
Giả sử Ngân hàng Trung ương mua một trái phiếu từ ngân hàng thương mại với giá 100 đồng.
Ở đây là giao dịch MUA TRÁI PHIẾU cho dễ hình dung. (bạn thấy số 1 ở hình H không)
Khi đó, bảng cân đối của Ngân hàng Trung ương sẽ thay đổi như sau:
Bên tài sản có, Ngân hàng Trung ương sẽ tăng thêm 100 đồng trái phiếu.
Bên tài sản nợ, Ngân hàng Trung ương sẽ ghi nhận tăng 100 đồng dự trữ của hệ thống ngân hàng thương mại.
Nói cách khác:
– Tài sản có: +100 đồng trái phiếu.
– Tài sản nợ: +100 đồng dự trữ (R).
Còn đối với hệ thống ngân hàng thương mại thì sao?
Bên tài sản có của ngân hàng thương mại sẽ có sự chuyển đổi từ một loại tài sản sang một loại tài sản khác.
Cụ thể:
– Giảm 100 đồng trái phiếu.
– Tăng 100 đồng dự trữ tại Ngân hàng Trung ương.
Tổng tài sản không thay đổi, chỉ là cơ cấu tài sản thay đổi.
Mọi người có thể nhìn theo mũi tên đỏ trên sơ đồ:
Dự trữ của ngân hàng thương mại chính là khoản mà Ngân hàng Trung ương đang nợ hệ thống ngân hàng.
Vì vậy:
– Dự trữ ở ngân hàng thương mại là tài sản có của ngân hàng thương mại.
– Nhưng cũng chính khoản đó lại là tài sản nợ của Ngân hàng Trung ương.
Tương tự:
– Trái phiếu xuất hiện ở tài sản có của Ngân hàng Trung ương.
– Đồng thời biến mất khỏi tài sản có của ngân hàng thương mại.
Hai bảng cân đối luôn phải đối ứng với nhau.
Bây giờ chúng ta phải hiểu thật rõ khái niệm DỰ TRỮ.
Dự trữ ở đây chính là số dư tiền mà hệ thống ngân hàng thương mại đang gửi tại Ngân hàng Trung ương.
Ví dụ, tôi là một ngân hàng thương mại.
Tôi bán cho Ngân hàng Trung ương một trái phiếu trị giá 100 đồng.
Đổi lại, tôi không nhận tiền mặt.
Thay vào đó, tôi nhận được 100 đồng trong tài khoản dự trữ mở tại Ngân hàng Trung ương.
Khi đó:
– Trên bảng cân đối của tôi sẽ xuất hiện khoản dự trữ +100 đồng ở phần tài sản có.
– Trên bảng cân đối của Ngân hàng Trung ương sẽ xuất hiện khoản dự trữ +100 đồng ở phần tài sản nợ.
Đó chính là lý do vì sao khi Ngân hàng Trung ương mua trái phiếu thì lượng dự trữ của hệ thống ngân hàng tăng lên.
Và mọi người hãy bắt đầu chú ý một điểm rất quan trọng:
Ngân hàng Trung ương không cần phải "in tiền giấy" ngay lập tức.
Chỉ cần họ mua tài sản và ghi tăng dự trữ cho hệ thống ngân hàng là tiền cơ sở (Monetary Base – MB) đã tăng lên.
Đây chính là bước đầu tiên của quá trình bơm tiền vào nền kinh tế.
Còn bây giờ tôi sẽ tính trường hợp CHO VAY để tương ứng với phần CHỨNG KHOÁN và CHO VAY ở phía trên.
Rồi, chúng ta sẽ có hoạt động cho vay. (BẠN CÓ NHÌNH THẤY SỐ 2 Ở HÌNH H KHÔNG ^^)
Khi Ngân hàng Trung ương cho vay thì bên tài sản có của họ sẽ có gì?
NHTW cho NHTM vay.
Nếu tôi cho vay thì bên TÀI SẢN CÓ của NHTW sẽ xuất hiện một khoản cho vay, ví dụ cho vay 100 đồng.
Bên TÀI SẢN NỢ sẽ ghi tăng một khoản DỰ TRỮ 100 đồng.
Như vậy, mọi người sẽ nhìn thấy một vấn đề rất quan trọng:
Dù là NHTW MUA TRÁI PHIẾU hay NHTW CHO VAY thì kết quả của bước đầu tiên vẫn giống nhau, đó là làm tăng DỰ TRỮ của hệ thống ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Trung ương.
Rồi tương ứng bên NHTM sẽ như thế nào?
Bên TÀI SẢN CÓ ghi:
– Dự trữ: +100 đồng
Bên TÀI SẢN NỢ ghi:
– Đi vay: +100 đồng
Mọi người lưu ý một điểm rất quan trọng:
Ngân hàng Trung ương cho vay nhưng không đưa tiền mặt cho ngân hàng thương mại mang đi đâu cả.
Khoản tiền đó được ghi có trực tiếp vào tài khoản dự trữ của ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Trung ương.
Vì vậy:
– NHTW có một tài sản là khoản cho vay.
– Đồng thời NHTW phát sinh một khoản nợ là dự trữ của ngân hàng thương mại.
Còn phía NHTM:
– Họ có thêm một tài sản là dự trữ 100 đồng.
– Đồng thời họ có thêm một khoản nợ là đi vay 100 đồng.
Chỗ này hơi khó hiểu một chút.
Tôi là một NHTM.
Tôi có DỰ TRỮ 100 đồng tại NHTW.
Khoản dự trữ đó là tài sản của tôi.
Nhưng chính khoản đó lại là nghĩa vụ phải trả của NHTW nên nó nằm ở bên TÀI SẢN NỢ trên bảng cân đối của NHTW.
Mỗi ngân hàng thương mại đều có một tài khoản tại Ngân hàng Trung ương.
Toàn bộ số dư trên tài khoản đó đều được gọi là DỰ TRỮ.
Cho nên dù NHTW mua trái phiếu hay cho vay thì tiền cũng chưa chạy ra nền kinh tế ngay.
Nó chỉ mới xuất hiện dưới dạng DỰ TRỮ trong hệ thống ngân hàng.
Đây chính là bước đầu tiên của quá trình tạo cung tiền.
TẤT CẢ TIỀN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỂ TẠI NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỀU ĐƯỢC GỌI LÀ DỰ TRỮ (R).
Và chính sự thay đổi của khoản dự trữ này là điểm xuất phát cho toàn bộ quá trình bơm tiền hoặc hút tiền của Ngân hàng Trung ương.
(Câu hỏi:
Nếu Ngân hàng Trung ương cho Ngân hàng thương mại vay nhưng không đưa tiền mặt cho họ, mà chỉ ghi tăng dự trữ trong tài khoản tại Ngân hàng Trung ương, thì tại sao Ngân hàng thương mại lại cần vay?
Trả lời:
Bởi vì trong hệ thống ngân hàng hiện đại, điều quan trọng không phải là cầm được tiền mặt ngay lập tức, mà là có đủ tiền trong tài khoản dự trữ tại Ngân hàng Trung ương để thực hiện thanh toán.
Mọi người phải hiểu rằng các ngân hàng thương mại đều có tài khoản mở tại Ngân hàng Trung ương.
Ở Việt Nam, việc thanh toán giữa các ngân hàng được thực hiện thông qua hệ thống thanh toán của Ngân hàng Nhà nước, mà trung tâm là Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước và hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng.
Ví dụ:
Ngân hàng A và Ngân hàng B đều có tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước.
Giả sử khách hàng của Ngân hàng A chuyển 100 triệu đồng cho khách hàng của Ngân hàng B.
Lúc này, tiền không được mang từ Ngân hàng A sang Ngân hàng B bằng xe chở tiền.
Thay vào đó, Ngân hàng Nhà nước chỉ thực hiện bút toán:
– Trừ 100 triệu đồng trong tài khoản dự trữ của Ngân hàng A.
– Ghi có 100 triệu đồng vào tài khoản dự trữ của Ngân hàng B.
Giao dịch hoàn tất ngay trên hệ thống của Ngân hàng Nhà nước.
Do đó, đối với các ngân hàng thương mại, dự trữ tại Ngân hàng Trung ương giống như "tiền thanh toán" giữa các ngân hàng với nhau.
Nếu một ngân hàng thiếu dự trữ, họ có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán cho các ngân hàng khác.
Đó là lý do khi cần thêm thanh khoản, các ngân hàng thương mại sẽ vay từ Ngân hàng Trung ương.
Mặc dù tiền vay không được đưa dưới dạng tiền mặt, nhưng số dư dự trữ trong tài khoản của họ tại Ngân hàng Trung ương tăng lên, và họ có thể sử dụng số dự trữ đó để thực hiện thanh toán, bù trừ và đáp ứng các yêu cầu dự trữ của hệ thống.
Nói cách khác, Ngân hàng Trung ương không nhất thiết phải đưa tiền mặt cho ngân hàng thương mại. Chỉ cần ghi tăng số dư trong tài khoản dự trữ của ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Trung ương là ngân hàng đó đã có thêm khả năng thanh toán trong toàn hệ thống.)
Như vậy, điểm quan trọng nhất ở đây mà chúng ta cần phải biết đó là hệ thống tạo tiền bắt đầu từ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG.
Tiền không tự nhiên xuất hiện ở hệ thống ngân hàng thương mại, mà nó phải đi từ Ngân hàng Trung ương sang hệ thống ngân hàng thương mại thông qua các hoạt động như mua bán trái phiếu hoặc cho vay.
Nói cách khác, khi Ngân hàng Trung ương thực hiện hoạt động số 1 (mua trái phiếu) hoặc hoạt động số 2 (cho vay), thì phía ngân hàng thương mại sẽ có phần DỰ TRỮ tăng thêm tại Ngân hàng Trung ương.
Và chính từ đây chúng ta có một khái niệm rất quan trọng, đó là TIỀN CƠ SỞ.
Tiếng Anh gọi là MB (Monetary Base).
Tiền cơ sở chính là tổng của:
– Tiền giấy đang lưu thông (C).
– Dự trữ của hệ thống ngân hàng tại Ngân hàng Trung ương (R).
Hay nói cách khác:
MB = C + R
Mọi người lưu ý rằng tiền cơ sở chưa phải là toàn bộ lượng tiền trong nền kinh tế.
Đây mới chỉ là phần tiền được Ngân hàng Trung ương tạo ra đầu tiên thông qua việc giao dịch với hệ thống ngân hàng thương mại.
Khi Ngân hàng Trung ương mua trái phiếu hoặc cho vay, tài sản của Ngân hàng Trung ương sẽ tăng lên và đồng thời xuất hiện một khoản nợ tương ứng dưới dạng DỰ TRỮ của hệ thống ngân hàng thương mại.
Vì vậy, sau hai hoạt động này:
– Ngân hàng thương mại sẽ có thêm DỰ TRỮ ở bên tài sản có.
– Ngân hàng Trung ương sẽ có thêm DỰ TRỮ ở bên tài sản nợ.
Nó chỉ đơn giản như vậy thôi.
Điểm mấu chốt cần nhớ là:
Ngân hàng Trung ương không bơm tiền trực tiếp cho người dân.
Ngân hàng Trung ương bơm tiền vào hệ thống ngân hàng thương mại trước, dưới dạng DỰ TRỮ.
Sau đó, thông qua hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại, lượng tiền này mới tiếp tục được nhân lên trong toàn bộ nền kinh tế.
Đó chính là lý do vì sao chúng ta gọi MB là TIỀN CƠ SỞ, bởi vì nó là nền móng của toàn bộ quá trình tạo tiền phía sau.
Bây giờ chúng ta sẽ đến người chơi thứ 3, đó là NGƯỜI GỬI TIỀN.
Chúng ta hãy giả định chỉ có một ngân hàng là NGÂN HÀNG SỐ 1.
Ngân hàng số 1:
– Tài sản có
– Tài sản nợ
Giả sử có một người gửi tiền gửi 100 đồng vào ngân hàng.
Khi đó, bảng cân đối của ngân hàng sẽ như sau:
Ngân hàng số 1
Tài sản có:
– Dự trữ: 100 đồng
Tài sản nợ:
– Tiền gửi: 100 đồng
Về lý thuyết, nếu ngân hàng giữ toàn bộ số tiền này thì 100 đồng tiền gửi sẽ tương ứng với 100 đồng dự trữ.
Tuy nhiên, phát minh lớn nhất của hệ thống ngân hàng hiện đại là DỰ TRỮ BẮT BUỘC.
Ngân hàng Nhà nước nói rằng:
"Không cần phải giữ lại toàn bộ 100 đồng đâu. Người dân gửi vào 100 đồng thì anh chỉ cần giữ lại một phần làm dự trữ bắt buộc, phần còn lại anh có thể đem cho vay."
Ví dụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% (10% x 100 = 10).
Khi đó:
Ngân hàng số 1
Tài sản có:
– Dự trữ: 10 đồng
– Cho vay: 90 đồng
Tài sản nợ:
– Tiền gửi: 100 đồng
Có nghĩa là trong 100 đồng tiền gửi, ngân hàng chỉ phải giữ lại 10 đồng dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Trung ương, còn 90 đồng còn lại có thể đem cho vay.
Đây chính là cơ chế tạo tiền của hệ thống ngân hàng.
Bây giờ giả sử ngân hàng số 1 cho một người vay 90 đồng để mua ô tô.
Nhưng người bán ô tô lại có tài khoản tại NGÂN HÀNG SỐ 2.
Khi giao dịch hoàn thành, 90 đồng đó sẽ xuất hiện dưới dạng tiền gửi tại NGÂN HÀNG SỐ 2.
Khi đó bảng cân đối của NGÂN HÀNG SỐ 2 sẽ là:
Tài sản có:
– Dự trữ: 90 đồng
Tài sản nợ:
– Tiền gửi: 90 đồng
Về lý thuyết, ngân hàng số 2 cũng có thể giữ lại toàn bộ 90 đồng làm dự trữ.
Nhưng với tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10%, họ chỉ cần giữ lại:
90 × 10% = 9 đồng
Như vậy:
Ngân hàng số 2
Tài sản có:
– Dự trữ: 9 đồng
– Cho vay: 81 đồng
Tài sản nợ:
– Tiền gửi: 90 đồng
Và 81 đồng này lại tiếp tục được đem cho vay.
Người nhận 81 đồng lại gửi vào một ngân hàng khác.
Ngân hàng đó lại giữ lại 10% dự trữ bắt buộc và tiếp tục cho vay phần còn lại.
Cứ như vậy, tiền tiếp tục chạy qua hết ngân hàng này đến ngân hàng khác.
Đó chính là quá trình tạo tiền gửi trong hệ thống ngân hàng.
Mọi người lưu ý một điểm rất quan trọng:
Ngân hàng Trung ương chỉ tạo ra TIỀN CƠ SỞ (MB).
Còn hệ thống ngân hàng thương mại mới là nơi NHÂN TIỀN lên thông qua cơ chế dự trữ bắt buộc và cho vay.
Chính vì vậy mà từ 100 đồng dự trữ ban đầu, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra lượng tiền gửi lớn hơn rất nhiều lần.
Như vậy có một điều rất quan trọng là TỔNG TIỀN GỬI của hệ thống ngân hàng sẽ bằng:
100 + 90 + 81 + …
và chúng ta cứ cộng tiếp như vậy.
Bản chất, người ta gọi sự thay đổi của tiền gửi trong hệ thống ngân hàng là ΔD (Delta D).
Ta có công thức:
ΔD = (1 / rr) × ΔR
Trong đó:
– ΔD: Thay đổi tổng tiền gửi của hệ thống ngân hàng
– ΔR: Thay đổi dự trữ của hệ thống ngân hàng
– rr: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
. Ví dụ:
Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% thì:
1 / 10% = 10
=> Hệ số nhân tiền = 10
Điều đó có nghĩa là:
100 đồng dự trữ tăng thêm có thể tạo ra tối đa 1000 đồng tiền gửi trong toàn bộ hệ thống ngân hàng.
Hay nói cách khác:
Tổng tiền gửi tăng thêm = 10 × Dự trữ tăng thêm.
Người ta gọi:
1 / rr
là HỆ SỐ NHÂN TIỀN (Money Multiplier).
Rồi phần này chúng ta sẽ đi rất kỹ.
Chúng ta hãy nhớ rằng ban đầu chỉ có NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG.
Ngân hàng trung ương sẽ giao dịch với các ngân hàng thương mại thông qua:
– Mua bán trái phiếu.
– Cho vay tái cấp vốn.
Mục tiêu quan trọng nhất là làm thay đổi DỰ TRỮ của hệ thống ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại sẽ có dự trữ tại Ngân hàng Trung ương.
Tuy nhiên, chỉ riêng việc có dự trữ thì tiền vẫn chưa tự nhân lên.
Tiền chỉ được nhân lên khi các ngân hàng thương mại sử dụng phần dự trữ đó để cho vay, và quá trình cho vay – gửi tiền – cho vay tiếp tục lặp lại trong toàn bộ nền kinh tế.
Chính cơ chế dự trữ bắt buộc đã tạo ra hệ số nhân tiền.
Bây giờ giả sử tôi là Ngân hàng Trung ương.
Nếu tôi yêu cầu tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 100% thì sao?
Có nghĩa là cứ nhận được 100 đồng tiền gửi thì ngân hàng phải giữ lại đủ 100 đồng dự trữ, không được cho vay đồng nào.
Khi đó:
1: 100%=1
Hệ số nhân tiền bằng 1.
Tiền trong nền kinh tế gần như không được nhân lên.
Ngược lại, nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% thì:
1: 10%=10
Khi đó hệ thống ngân hàng có khả năng tạo ra lượng tiền gửi lớn gấp 10 lần lượng dự trữ ban đầu.
Như vậy chúng ta đã nhìn thấy được quy trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng.
Tiếp tục, mọi người có biết tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Mỹ trong giai đoạn COVID-19 từng được đưa về mức bao nhiêu không?
Đó là 0%.
Điều này có nghĩa là Fed muốn mở rộng tín dụng rất mạnh để hỗ trợ nền kinh tế.
Nói đơn giản, ngân hàng nhận được tiền gửi thì gần như không bị ràng buộc bởi yêu cầu dự trữ bắt buộc như trước nữa.
Mọi người nhìn lại xem, tiền trong nền kinh tế bắt đầu từ đâu?
Nó chỉ bắt đầu từ hai nguồn ở phía Ngân hàng Trung ương:
– Tiền giấy (C) đang lưu thông.
– Dự trữ (R) của các ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Trung ương.
Người dân thường nắm giữ tiền giấy.
Còn dự trữ là tài sản của các ngân hàng thương mại gửi tại Ngân hàng Trung ương.
Vì vậy, thứ quan trọng nhất ở đây chính là TIỀN CƠ SỞ (MB – Monetary Base).
Khi Ngân hàng Trung ương làm tăng dự trữ của hệ thống ngân hàng, đồng thời tỷ lệ dự trữ bắt buộc thấp, thì hệ thống ngân hàng có khả năng tạo ra nhiều tiền hơn thông qua hoạt động cho vay.
Ngược lại, khi dự trữ bị thu hẹp hoặc tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên, khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng sẽ giảm xuống.
Chúng ta cần lưu ý một điểm rất quan trọng:
Khi Ngân hàng Trung ương "bơm tiền", không nhất thiết họ phải in thêm tiền giấy.
Trong thực tế, phần lớn việc bơm tiền diễn ra thông qua các bút toán kế toán.
Ngân hàng Trung ương làm tăng dự trữ của các ngân hàng thương mại thông qua:
– Mua trái phiếu.
– Cho vay tái cấp vốn.
– Các nghiệp vụ thị trường mở khác.
Sau đó, các ngân hàng thương mại sử dụng phần dự trữ này để cho vay.
Thông qua cơ chế dự trữ bắt buộc và hệ số nhân tiền, lượng tiền trong nền kinh tế sẽ được mở rộng nhiều lần.
Tóm lại:
Tăng cung tiền = tăng dự trữ của hệ thống ngân hàng + tăng khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng (thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc thấp hơn hoặc tín dụng mở rộng hơn).
Đó chính là cơ chế cốt lõi của quá trình bơm tiền trong nền kinh tế hiện đại.
Khi Ngân hàng Trung ương thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì họ có thể thay đổi toàn bộ lượng tiền gửi được tạo ra trong hệ thống ngân hàng.
Bây giờ tôi hỏi mọi người nhé:
Cái cơ chế nhân tiền này có phải lúc nào cũng hoạt động hoàn hảo không?
Hay nói cách khác, cái vòng quay tiền này sẽ bị phá vỡ khi nào?
Trả lời:
Có hai trường hợp chính.
Thứ nhất, người dân không gửi tiền vào ngân hàng mà giữ dưới dạng tiền mặt.
Chúng ta hãy nhớ rằng cơ chế nhân tiền chỉ hoạt động khi tiền nằm trong hệ thống ngân hàng. Nếu người dân rút tiền ra và cất trong két sắt hoặc giữ dưới dạng tiền giấy thì số tiền đó không còn tham gia vào quá trình cho vay nữa.
Khi đó, khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng sẽ giảm xuống.
Thứ hai, ngân hàng không cho vay.
Đây là điểm cực kỳ quan trọng.
Ngân hàng Trung ương có thể bơm rất nhiều dự trữ vào hệ thống, nhưng nếu các ngân hàng thương mại không muốn cho vay hoặc không tìm được khách hàng đủ điều kiện để vay thì quá trình tạo tiền cũng sẽ dừng lại.
Lúc đó tiền chỉ nằm trong hệ thống ngân hàng dưới dạng dự trữ chứ không đi ra nền kinh tế.
Nói cách khác:
Muốn có cung tiền tăng thì phải có đủ ba điều kiện:
1. Ngân hàng Trung ương bơm dự trữ vào hệ thống.
2. Ngân hàng thương mại sẵn sàng cho vay.
3. Người dân và doanh nghiệp sẵn sàng đi vay.
Thiếu một trong ba điều kiện này thì cơ chế nhân tiền sẽ suy yếu.
Ở Việt Nam còn có một đặc điểm rất quan trọng nữa.
Đó là tăng trưởng tín dụng được quản lý bằng hạn mức (room tín dụng).
Ví dụ, có những năm Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 14%.
Điều đó có nghĩa là dù ngân hàng có muốn cho vay nhiều hơn thì cũng không thể cho vay vượt quá giới hạn được giao.
Vì vậy, về mặt lý thuyết, cơ chế nhân tiền có thể tạo ra một lượng tiền rất lớn.
Nhưng trên thực tế, lượng tiền được tạo ra còn phụ thuộc vào các quy định điều hành của từng quốc gia.
Đây cũng là lý do tại sao chúng ta phải tách riêng phần lý thuyết và phần thực tiễn.(ECONOMIC # ECONOMY)
Đầu tiên phải hiểu nguyên lý tạo tiền hoạt động như thế nào.
Sau đó mới xem mỗi quốc gia vận hành cơ chế đó ra sao.
Mỹ và Việt Nam đều có hệ thống ngân hàng, đều có Ngân hàng Trung ương, nhưng cách điều hành lại không hoàn toàn giống nhau.
Ở Việt Nam, vòng quay tiền không thể mở rộng vô hạn vì còn bị giới hạn bởi tăng trưởng tín dụng và các quy định quản lý của Ngân hàng Nhà nước.
(TIẾP THEO XEM HÌNH I) – PHẦN NÀY NHÌN HÌNH SẼ DỄ HƠN
Rồi bây giờ chúng ta hãy xem rất rõ là những yếu tố nào ảnh hưởng đến cung tiền.
Chúng ta đã học rằng yếu tố quan trọng nhất là TIỀN CƠ SỞ (MB – Monetary Base).
MB = R + C
Trong đó:
– R là dự trữ của hệ thống ngân hàng tại Ngân hàng Trung ương.
– C là lượng tiền mặt đang lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng.
Hay nói cách khác:
Tiền cơ sở = Dự trữ của hệ thống ngân hàng + Tiền mặt trong lưu thông.
Chúng ta đã biết rằng dự trữ R gồm hai phần:
– Dự trữ bắt buộc (RR).
– Dự trữ vượt mức (ER).
Như vậy:
R = RR + ER
Mà:
RR = rr × D
Trong đó:
– rr là tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
– D là lượng tiền gửi (Deposit).
Tương tự:
ER = (ER/D) × D = e × D
Trong đó:
e = ER/D
được gọi là tỷ lệ dự trữ vượt mức.
Đối với tiền mặt:
C = (C/D) × D = c × D
Trong đó:
c = C/D
được gọi là tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông.
Bây giờ thay vào công thức:
MB = R + C
= (RR + ER) + C
= rr×D + e×D + c×D
= D(rr + e + c)
Suy ra:
D = MB/(rr + e + c)
Đến đây chúng ta đã tìm được lượng tiền gửi của hệ thống ngân hàng.
Mà cung tiền M2 được định nghĩa là:
M2 = D + C
Tức là:
Cung tiền = Tiền gửi + Tiền mặt.
Thay:
C = c×D
vào công thức trên:
M2 = D + c×D
= (1 + c)×D
Mà:
D = MB/(rr + e + c)
nên:
M2 = MB × (1 + c)/(rr + e + c)
Đây chính là công thức cung tiền.
Mọi người không cần phải nhớ công thức này, nhưng phải hiểu ý nghĩa của nó.
Bây giờ chúng ta hãy nhìn từng biến:
– c là tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông -> do người dân quyết định.
– e là tỷ lệ dự trữ vượt mức -> do ngân hàng thương mại quyết định.
– rr là tỷ lệ dự trữ bắt buộc -> do Ngân hàng Trung ương quyết định.
– MB là tiền cơ sở -> do Ngân hàng Trung ương tác động thông qua các hoạt động bơm hoặc hút tiền.
Vậy nếu muốn tăng cung tiền M2 thì phải làm gì?
Đầu tiên, Ngân hàng Trung ương phải tăng MB, tức là tăng tiền cơ sở.
Thứ hai, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc (rr).
Thứ ba, khuyến khích hệ thống ngân hàng cho vay nhiều hơn để giảm e.
Và cuối cùng, khuyến khích người dân sử dụng tiền gửi thay vì giữ tiền mặt, tức là làm giảm c.
Đó là lý do tại sao ngày nay các quốc gia đều thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.
Khi tiền nằm trong hệ thống ngân hàng, Ngân hàng Trung ương sẽ điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả hơn rất nhiều.
Ngược lại, nếu người dân giữ quá nhiều tiền mặt thì khả năng kiểm soát cung tiền của Ngân hàng Trung ương sẽ giảm đi.
Cái chỗ này tôi sẽ phải đi lại cho a/c/e dễ hiểu.
Ban nãy chúng ta đã hiểu TIỀN CƠ SỞ (MB) gồm hai phần:
MB = R + C
Trong đó:
– R là DỰ TRỮ của hệ thống ngân hàng tại Ngân hàng Trung ương.
– C là TIỀN MẶT đang lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng.
Đây chính là hai khoản nợ quan trọng nhất trên bảng cân đối của Ngân hàng Trung ương.
Rồi, dự trữ (R) lại được tách thành hai phần:
– Dự trữ bắt buộc (RR).
– Dự trữ vượt mức (ER).
Còn C là lượng tiền mặt mà người dân đang nắm giữ.
Để tiện tính toán, người ta chia các khoản này cho lượng tiền gửi D (Deposit).
Khi đó:
– rr = RR/D → tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
– e = ER/D → tỷ lệ dự trữ vượt mức.
– c = C/D → tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông.
Từ đó chúng ta có công thức:
M2 = MB × (1+c)/(rr+e+c)
Trong đó:
(1+c)/(rr+e+c)
được gọi là HỆ SỐ NHÂN TIỀN (Money Multiplier). – HÌNH K
Hệ số nhân tiền có nghĩa là:
Nếu Ngân hàng Trung ương tăng thêm 1 đồng tiền cơ sở (MB) thì cung tiền trong nền kinh tế sẽ tăng lên bao nhiêu đồng.
Ví dụ:
Nếu hệ số nhân tiền bằng 7 thì:
Ngân hàng Trung ương tăng 1 đồng tiền cơ sở -> cung tiền có thể tăng khoảng 7 đồng.
Như vậy, để thay đổi cung tiền thì chúng ta có 3 người chơi:
1. Ngân hàng Trung ương (NHTW)
– Tăng tiền cơ sở (MB) -> cung tiền tăng.
– Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc (rr) -> cung tiền tăng.
2. Ngân hàng thương mại (NHTM)
– Giảm dự trữ vượt mức (e).
– Tăng cường cho vay thay vì giữ tiền tại Ngân hàng Trung ương.
Khi đó cung tiền sẽ tăng.
3. Người dân (người gửi tiền)
– Giảm nắm giữ tiền mặt.
– Tăng gửi tiền vào hệ thống ngân hàng.
Khi tỷ lệ tiền mặt (c) giảm thì hệ thống ngân hàng có nhiều tiền gửi hơn để cho vay, từ đó hệ số nhân tiền tăng lên và cung tiền tăng lên.
Như vậy khi tư duy về cung tiền, chúng ta chỉ cần tập trung vào 5 biến số:
– MB (tiền cơ sở).
– rr (tỷ lệ dự trữ bắt buộc).
– e (tỷ lệ dự trữ vượt mức).
– c (tỷ lệ tiền mặt).
– m (hệ số nhân tiền).
Hay nói cách khác:
Cung tiền = m × MB
Trong đó:
m = (1+c)/(rr+e+c)
Bây giờ có bạn lại hỏi:
"Thế số liệu cung tiền lấy ở đâu?"
Rồi, phần đó chúng ta sẽ thực hành sau.
Hiện nay các số liệu như cung tiền M2, tăng trưởng tín dụng, tiền cơ sở hay các chỉ tiêu tiền tệ khác đều có thể theo dõi trên Wichart và các nguồn dữ liệu của Ngân hàng Nhà nước.
Tuy nhiên trước khi nhìn số liệu, chúng ta phải hiểu cơ chế tạo tiền hoạt động như thế nào. Khi đã hiểu lý thuyết rồi thì việc đọc số liệu sẽ dễ hơn rất nhiều.
Chúng ta hãy quay lại công thức rất đơn giản:
M×V=P×Q
Trong đó:
– M là lượng cung tiền.
– V là tốc độ lưu thông tiền tệ (vòng quay tiền).
– P là mức giá.
– Q là sản lượng thực tế.
Như vậy, P × Q chính là GDP danh nghĩa đúng không ạ.
Thế thì khi chúng ta tính tốc độ tăng trưởng:
Tốc độ tăng trưởng của một tích sẽ xấp xỉ bằng tổng các tốc độ tăng trưởng của các thành phần.
Do đó:
%ΔM + %ΔV = %ΔP + %ΔQ
(%Δ(M×V) ≈ %ΔM + %ΔV
Tương tự:
%Δ(P×Q) ≈ %ΔP + %ΔQ
Vì:
M × V = P × Q
nên:
%ΔM + %ΔV = %ΔP + %ΔQ)
Trong thực tế, tốc độ lưu thông tiền tệ (V) thường biến động chậm trong dài hạn, nên nhiều mô hình đơn giản giả định:
%ΔV ≈ 0
Khi đó:
%ΔM ≈ %ΔP + %ΔQ
Hay nói cách khác:
Tốc độ tăng cung tiền ≈ Lạm phát + Tốc độ tăng trưởng GDP thực
Trong đó:
– %ΔP là lạm phát.
– %ΔQ là tốc độ tăng sản lượng thực (GDP thực).
Từ đây chúng ta có thể hiểu một cách trực quan rằng:
Nếu một nền kinh tế muốn tăng trưởng 8% GDP thực, trong khi lạm phát ổn định ở mức 4%, thì về lý thuyết lượng cung tiền cần tăng khoảng:
8% + 4% = 12%
để đáp ứng nhu cầu giao dịch của nền kinh tế.
Ngược lại, nếu cung tiền tăng quá thấp so với nhu cầu của nền kinh tế thì có thể dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản, lãi suất tăng và gây áp lực lên tăng trưởng.
Đây là góc nhìn về mặt công thức.
Phần này hơi khó một chút vì mọi người đang học theo hướng phân tích, nên chúng ta phải nhìn vào từng biến số để hiểu bản chất.
Nếu chỉ nói chung chung rằng "Ngân hàng Trung ương tăng cung tiền" thì quá đơn giản. Điều quan trọng là phải hiểu:
Tăng cung tiền bằng cách nào?
– Tăng tiền cơ sở (MB)?
– Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc (rr)?
– Giảm dự trữ vượt mức (e)?
– Hay làm giảm tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của người dân (c)?
Chính những yếu tố đó mới quyết định cung tiền thực sự thay đổi như thế nào trong nền kinh tế.
—
Bài viết tiếp theo sẽ giải quyết vấn đề còn lại
TOBE CONTINUED
Bài viết được trích xuất và lưu trữ từ trang chính thức CMB Investing – Cố Vấn Đầu Tư VPS. Xem bài viết gốc trên Facebook ↗
Mỗi ấn phẩm Tạp Chí CMB được chắt lọc từ những chiêm nghiệm sống và phân tích đầu tư thực chiến, nhằm đồng hành cùng các anh chị trên con đường tự do tài chính.