SERIES ĐỌC VỊ VĨ MÔ TRONG PHÂN TÍCH – VÀNG – CHỨNG KHOÁN – BĐS
Phần 2: Chính sách tiền tệ - tài khoá và kết hợp tiền tệ…
(Series ứng dụng vĩ mô trong đầu tư – Tiền gửi – Vàng – Chứng khoán – BĐS)
Chính sách tiền tệ Thảo luận về định nghĩa của chính sách tiền tệ và những vấn đề liên quan như cơ chế cung tiền, hệ thống tổ chức Ngân hàng Trung ương, những công cụ của Chính sách Tiền tệ
– Cơ chế cung tiền
– Hệ thống tổ chức Ngân hàng Trung ương
– Công cụ của chính sách tiền tệ
Tỷ giá hối đoái Hiểu được mỗi nước trên thế giới sẽ có cơ chế điều hành tỷ giá khác nhau và sự khác nhau của cơ chế sẽ phụ thuộc vào tình hình kinh tế của mỗi nước.
– Khái niệm tỷ giá
– Cách yết giá
– Cách tính tỷ giá chéo
– Tại sao tỷ giá quan trọng?
– Lịch sử của chế độ tỷ giá
– Phân loại tỷ giá
Những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá
– Trong dài hạn Hiểu được các yếu tố chính ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái trong dài hạn.
– Trong ngắn hạn Hiểu được các yếu tố chính ảnh hưởng đến tỷ giá và lý thuyết bộ ba bất khả thi trong quản lý kinh tế vĩ mô.
Cơ chế điều hành tỷ giá tại Việt Nam Trình bày về chế độ tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam và chế độ tỷ giá thả nổi có biên độ có quản lý do Ngân hàng Nhà nước.
– Cơ chế điều hành tỷ giá
– Cơ chế neo trườn biên độ
– Can thiệp của NHNN và thị trường ngoại hối Hiểu được các công cụ điều hành tỷ giá cũng như sự tác động của các công cụ đến mục tiêu điều hành tỷ giá của NHNN.
Toàn bộ phần A: https://www.facebook.com/share/p/1D3Pr1DooZ/
Tóm lược phần B :
Chúng ta bắt đầu từ câu hỏi TIỀN LÀ GÌ? (đây cũng là phần bổ túc lại một số kiến thức của KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN).
Và chúng ta đã đi xem là HỘ GIA ĐÌNH và DOANH NGHIỆP kết nối với nhau như thế nào thông qua TIỀN. Chúng ta cũng đã nhìn thấy vai trò rất lớn của THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH, bao gồm hai thị trường là THỊ TRƯỜNG VỐN và THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ, thông qua các định chế trung gian là NGÂN HÀNG.
Vấn đề lớn nhất trong hệ thống tài chính là BẤT ĐỐI XỨNG THÔNG TIN giữa những người có vốn và những người cần vốn. Trong mô hình đơn giản của chúng ta, đó chính là giữa HỘ GIA ĐÌNH và DOANH NGHIỆP. Chính vì vậy, vai trò của NGÂN HÀNG là một định chế vô cùng cần thiết, giúp thu thập thông tin, đánh giá rủi ro và phân bổ vốn trong nền kinh tế.
Để hỗ trợ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG hoạt động ổn định và hạn chế các rủi ro đổ vỡ mang tính hệ thống, chúng ta sẽ thấy một mô hình gọi là HỆ THỐNG NGÂN HÀNG HAI CẤP, bao gồm:
– NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG (NHTW).
– NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM).
Các NHTW trên thế giới có mức độ độc lập khác nhau đối với Chính phủ. Có những NHTW ĐỘC LẬP hơn trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ, và cũng có những NHTW PHỤ THUỘC nhiều hơn vào Chính phủ.
Khi nói đến sự ĐỘC LẬP của NHTW, thông thường chúng ta sẽ xét trên hai khía cạnh:
– MỤC TIÊU ĐỘC LẬP.
– CÔNG CỤ ĐỘC LẬP.
Tức là NHTW có thể độc lập trong việc xác định mục tiêu chính sách tiền tệ hoặc độc lập trong việc sử dụng các công cụ để đạt được mục tiêu đó. Phần này chúng ta sẽ đi rất chi tiết khi học về các công cụ của NHTW.
Ngoài ra, các NHTW cũng không hoạt động tách biệt hoàn toàn với nhau. Khi một NHTW lớn trên thế giới điều hành chính sách tiền tệ, thay đổi lãi suất hoặc cung tiền, nó có thể tác động đến các nền kinh tế khác thông qua nhiều kênh khác nhau, trong đó một kênh rất quan trọng là TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI.
Do đó, khi nghiên cứu NHTW, chúng ta không chỉ nhìn vào nền kinh tế trong nước mà còn phải nhìn vào mối quan hệ giữa các quốc gia thông qua TỶ GIÁ, DÒNG VỐN và THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ.
Thế còn NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ở đây có một nhiệm vụ quan trọng, đó là thực hiện CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ. Chính sách tiền tệ thì nó sẽ gồm hai phần, chúng ta hãy nhìn vào THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ.
Ở đây chúng ta sẽ có CẦU TIỀN là một đường dốc xuống như trên hình và CUNG TIỀN là một đường thẳng đứng.
Và mình xin nhắc lại một ý rất quan trọng:
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ chỉ tác động trực tiếp vào ĐƯỜNG CUNG TIỀN.
(Nếu mọi người muốn đọc sách thì mình recommend quyển của Mishkin – Kinh tế học Tiền tệ, Ngân hàng và Thị trường Tài chính. Quyển này hơi khó đọc đối với người mới bắt đầu nhưng là một trong những cuốn sách nền tảng nhất về lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.)
Ở đây thì chúng ta đã hiểu rằng trong mô hình NGÂN HÀNG HAI CẤP, NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG sẽ chịu trách nhiệm thực thi CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ và tác động vào CUNG TIỀN.
Ở đây tôi sẽ tổng hợp lại những gì chúng ta đã học PHẦN A.
Đó là những yếu tố làm thay đổi CẦU TIỀN, bao gồm:
– THU NHẬP tăng (hay nói cách khác là GDP tăng trưởng).
– LẠM PHÁT hay MỨC GIÁ tăng.
Hai yếu tố này đều làm cho ĐƯỜNG CẦU TIỀN dịch chuyển sang bên phải.
Thế còn vai trò của NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG chỉ có thể tác động vào CUNG TIỀN thông qua các chính sách:
– MỞ RỘNG.
– THU HẸP.
Chúng ta cũng đã đi qua các khái niệm:
– M1
– M2
Và bản chất của toàn bộ vấn đề là chúng ta phải quan tâm đến CUNG TIỀN.
Thế rồi sau đó chúng ta sẽ đi vào CUNG TIỀN.
Chúng ta biết rằng cung tiền được xây dựng từ TIỀN CƠ SỞ (MB – Monetary Base).
Tiền cơ sở bao gồm:
– C: Tiền mặt (tiền giấy) do NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG phát hành.
– R: Dự trữ của hệ thống ngân hàng tại NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG.
Do đó:
MB = C + R
Và từ TIỀN CƠ SỞ (MB) này, hệ thống ngân hàng sẽ tạo ra lượng tiền lớn hơn trong nền kinh tế, mà chúng ta thường quan tâm nhất là M2.
M2 bao gồm:
– C: Tiền mặt lưu hành.
– D (Deposit): Các khoản tiền gửi trong hệ thống ngân hàng.
Do đó:
M2 = C + D
Và từ đây chúng ta có một công thức rất quan trọng, đó là HỆ SỐ NHÂN TIỀN (Money Multiplier).
Và cung tiền thì nó dựa trên TIỀN CƠ SỞ (MB). Từ MB biến thành M2 thì ở đây chúng ta sẽ có một công thức rất quan trọng.
Đó là HỆ SỐ NHÂN TIỀN.
m = M2/MB
Trong đó:
– m là HỆ SỐ NHÂN TIỀN.
– M2 là CUNG TIỀN.
– MB là TIỀN CƠ SỞ.
Mà chúng ta biết:
– M2 = C + D
– MB = C + R
Nên:
m = (C + D) / (C + R)
Bây giờ chia cả tử và mẫu cho D:
m = (C/D + D/D) / (C/D + R/D)
Ta đặt:
– c = C/D
– rr = RR/D (tỷ lệ dự trữ bắt buộc)
– re = ER/D (tỷ lệ dự trữ vượt mức)
Mà:
R = RR + ER
Nên:
R/D = rr + re
Suy ra:
m = (c + 1) / (c + rr + re)
Và cuối cùng:
M2 = MB × m
Hay:
M2 = MB × (c + 1) / (c + rr + re)
Đây chính là công thức HỆ SỐ NHÂN TIỀN mà Mishkin sử dụng khi phân tích quá trình tạo cung tiền của hệ thống ngân hàng. Nó cho thấy rằng từ một lượng TIỀN CƠ SỞ (MB) do NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG tạo ra, lượng CUNG TIỀN (M2) cuối cùng còn phụ thuộc vào:
– c: tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của người dân.
– rr: tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
– re: tỷ lệ dự trữ vượt mức của ngân hàng thương mại.
Đó là lý do vì sao NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG kiểm soát trực tiếp MB nhưng không kiểm soát hoàn toàn M2.
Vậy tính HỆ SỐ NHÂN TIỀN để làm gì?
Tính hệ số nhân tiền là để thấy rằng tác động của NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG từ TIỀN CƠ SỞ (MB) sang CUNG TIỀN (M2) sẽ phụ thuộc vào những biến số nào.
Từ công thức trên chúng ta có:
M2 = MB × m
Hay:
M2 = MB × (c + 1)/(c + rr + re)
Nhìn vào công thức này chúng ta sẽ thấy rằng ngoài MB ra thì còn có ba biến số rất quan trọng ảnh hưởng đến cung tiền.
Thứ nhất là c, tức là tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của người dân.
Như vậy câu hỏi đặt ra là có phải quốc gia nào khi điều hành cung tiền cũng giống nhau hay không?
Câu trả lời là hoàn toàn không giống nhau.
Bởi vì tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của người dân ở mỗi quốc gia là khác nhau. Có những quốc gia người dân chủ yếu sử dụng tiền gửi và thanh toán điện tử, nhưng cũng có những quốc gia người dân vẫn thích nắm giữ tiền mặt. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hệ số nhân tiền.
Thứ hai là re, tức là tỷ lệ dự trữ vượt mức.
Nói một cách đơn giản, đây là phần tiền mà các NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI giữ lại tại NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG thay vì đem đi cho vay.
Khi hệ thống tài chính gặp vấn đề thì các ngân hàng thường có xu hướng giữ lại rất nhiều dự trữ để phòng ngừa rủi ro thay vì cho vay ra nền kinh tế.
Ví dụ trong cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008, chúng ta đã thấy thị trường INTERBANK (thị trường cho vay giữa các ngân hàng) gần như bị đóng băng. Các ngân hàng không muốn cho nhau vay, đồng thời cũng hạn chế cho doanh nghiệp và người dân vay.
Hay trong một số giai đoạn khó khăn của nền kinh tế như thời kỳ COVID, tốc độ tăng trưởng tín dụng cũng giảm mạnh do cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp đều trở nên thận trọng hơn.
Khi đó, mặc dù NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG có thể tăng MB, nhưng nếu các ngân hàng không cho vay hoặc người dân có xu hướng giữ nhiều tiền mặt hơn thì M2 chưa chắc đã tăng tương ứng.
Đây chính là một trong những vấn đề quan trọng nhất khi nghiên cứu về cung tiền.
Nói cách khác, không phải cứ tăng TIỀN CƠ SỞ (MB) là CUNG TIỀN (M2) sẽ tăng ngay. Điều đó còn phụ thuộc vào hành vi của người dân và hành vi của hệ thống ngân hàng.
Ở đó các bạn có thể tự thay đổi các giả định về:
– Tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
– Tỷ lệ dự trữ vượt mức.
– Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt.
Từ đó chúng ta có thể tính được hệ số nhân tiền thay đổi như thế nào.
Rồi tiếp theo chúng ta sẽ đi đến khái niệm LƯỢNG TIỀN TĂNG TRƯỞNG TỐI ƯU.
Về nguyên tắc, tốc độ tăng trưởng của lượng tiền trong nền kinh tế (ΔM) tối thiểu phải tương thích với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thực.
Nói một cách đơn giản:
ΔM tối thiểu phải bằng hoặc lớn hơn tốc độ tăng trưởng GDP thực.
Nếu lượng tiền tăng quá chậm so với nhu cầu của nền kinh tế thì sẽ xảy ra tình trạng thiếu thanh khoản và thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ngược lại, nếu lượng tiền tăng quá nhanh so với tăng trưởng của nền kinh tế thực thì áp lực lạm phát sẽ xuất hiện.
(Đây chỉ là phần tóm lược của PHẦN B, các bài viết sau sẽ đi cụ thể chi tiết từng vấn đề một)
—
TUBE CONTINUED
Bài viết được trích xuất và lưu trữ từ trang chính thức CMB Investing – Cố Vấn Đầu Tư VPS. Xem bài viết gốc trên Facebook ↗
Mỗi ấn phẩm Tạp Chí CMB được chắt lọc từ những chiêm nghiệm sống và phân tích đầu tư thực chiến, nhằm đồng hành cùng các anh chị trên con đường tự do tài chính.