SERIES ĐỌC VỊ VĨ MÔ TRONG PHÂN TÍCH – VÀNG – CHỨNG KHOÁN – BĐS
Phần 2: Chính sách tiền tệ - tài khoá và kết hợp tiền tệ…
ĐÂY LÀ SERIES ỨNG DỤNG VĨ MÔ ĐẦU TƯ:
Tiền gửi – Vàng – Cổ phiếu – Trái phiếu – BĐS
(Phần tiếp theo về chính sách tài khóa Thảo luận về định nghĩa của Chính sách Tài khóa và những vấn đề liên quan, sau đó phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong các điều kiện kinh tế IS – LM => CÁC LỚP TÀI SẢN VÀ CHU KỲ ĐẦU TƯ )
(xem slide còn lại ở phần bình luận)
Cộng đồng: https://www.messenger.com/channel/cmbinvesting.com.vn
Nếu anh/chị thấy series này hữu ích, có thể ủng hộ cà phê qua:
Techcombank: 190019011995
Chủ tài khoản: Hoàng Bá Vinh
Hoặc anh/chị có thể đăng ký 22.000đ/tháng ở phần Đăng ký phía đầu trang Facebook để ủng hộ tôi tiếp tục thực hiện series này.
Ngoài ra, anh/chị có thể ủng hộ qua PayPal: paypal.me/vinmac1995
Cảm ơn anh/chị rất nhiều vì sự ủng hộ!
Ở những bài viết trước chúng ta đã tìm hiểu về
– CUNG TIỀN
– DỰ TRỮ BẮT BUỘC
– DỰ TRỮ VƯỢT MỨC
– TĂNG GIẢM DỰ TRỮ (BƠM/HÚT TIỀN)
– ROOM TÍN DỤNG …
Chúng ta cũng đã thực hành rất kỹ để hiểu
Nếu một nền kinh tế muốn tăng trưởng 8% GDP thực, trong khi lạm phát ổn định ở mức 4%, thì về lý thuyết lượng cung tiền cần tăng khoảng:
8% + 4% = 12% để đáp ứng nhu cầu giao dịch của nền kinh tế.
Ngược lại, nếu cung tiền tăng quá thấp so với nhu cầu của nền kinh tế thì có thể dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản, lãi suất tăng và gây áp lực lên tăng trưởng.
https://www.facebook.com/share/p/1DLxQ2R69f/
Hôm nay chúng ta sẽ đi tìm hiểu vấn đề như:
– Lãi suất ON
– Lãi suất OMO
– Lãi suất tín phiếu
– Trần sàn lãi suất
…
Rồi, bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu về hệ thống NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
Hệ thống ngân hàng trung ương thì có hai hệ thống
Đó là ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ và
Ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ. (HÌNH 1)
Thì chúng ta (VIỆT NAM) đang thuộc mô hình trực thuộc chính phủ.
Ở mô hình độc lập với cả chính phủ (HÌNH2) thì chúng ta sẽ nhìn thấy rằng là Quốc hội sẽ giao các cái chỉ tiêu độc lập xuống cho hai bộ phận.
Thế còn ở NHTW trực thuộc chính phủ thì QUỐC HỘI sẽ giao nhiệm vụ cho chính phủ rồi từ đó chính phủ sẽ giao cho ngân hàng nhà nước, đấy là mô hình của Việt Nam (HÌNH 3)
Sau đó chúng ta sẽ tìm hiểu sâu về FED (HÌNH 4 – HÌNH 5)
Thế còn các ngân hàng khác: ECB, BOE, BOJ thì cái tác động của nó đối với lại nền kinh tế Việt nam nó khá là ít do vậy cho nên chúng ta sẽ không tìm hiểu sâu. Chúng ta sẽ đi rất là chuyên sâu vào FED tại vì nó có ảnh hưởng đến tỷ gía của VIỆT NAM.
Và ở đây thì chúng ta sẽ có là SBV ( Ngân hàng nhà nước mình HÌNH 6
Ngân hàng nhà nước thì được điều hành bởi thống đốc, phó thống đốc và các vụ cục.. và mục tiêu chính của chính sách tiền tệ của VIỆT NAM thì nó sẽ gồm 2 mục tiêu đó là
– ổn định kinh tế vĩ mô
– cũng như là ổn định gía cả tiền tệ. (HÌNH 7)
Thế thì để nhằm thực hiện hai cái mục tiêu đó thì họ phải làm gì ở VIỆT NAM:
Đấy thì đây là thị trường mà chúng ta sẽ hoạt động đầu tư thì chúng ta hãy xem là so với lý thuyết mà chúng ta đã được biết ở những bài trước thì Các công cụ để họ thực hiện chính sach tiền tệ của SBV cụ thể là những việc gì.
Thì chúng ta sẽ nhìn một cách tổng quan, ở đây chúng ta sẽ nhìn thấy một số các công cụ mà chúng ta đã được học:
TỶ LỆ DỰ TRỮ BẮT BUỘC thì nó sẽ ảnh hưởng đến CUNG TIỀN đúng k ạ, đã rất rõ rồi: https://www.facebook.com/share/p/1BTWSCKoRo/
Và họ sẽ có các cái QUY ĐỊNH vê HÀNH CHÍNH như là TRẦN hoặc SÀN lãi suất, hoặc là trần tăng trưởng tín dụng và CAN THIỆP LÃI XUẤT THỊ TRƯỜNG 1 thì từ đó sẽ ảnh hưởng đến MẶT BẰNG LÃI SUẤT TRONG NỀN KINH TẾ
Ở đây thì sẽ có cái NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ OMO – Open Market Operation. Chúng ta sẽ đi về LÃI SUẤT ĐIỀU HÀNH, NGHIỆP VỤ OMO và MUA BÁN NGOẠI TỆ để có thể CAN THIỆP TỶ GIÁ.
Và mục tiêu trung gian của chúng ta đó là ĐIỀU TIẾT LÃI SUẤT và ĐIỀU TIẾT THANH KHOẢN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG.
Nhằm mục tiêu cuối cùng đó là tăng trưởng dài hạn và ổn định lạm phát – HÌNH 8
Thì bài trước chúng ta đã học về tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở trong cái mô hình cung tiền rồi :
https://www.facebook.com/share/p/18E1vV23dt/
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỉ lệ % tiền gửi mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải giữ làm dự trữ theo yêu cầu của ngân hàng trung ương. Tất cả những cái khoản này thì sẽ gửi mà một tài khoản đặc biệt ở Ngân hàng trung ương thì chúng ta sẽ nhìn thấy rằng là như tôi đã giải thích: khi mà gửi tiền hay không thì nó sẽ tăng vào tài khoản nợ của Ngân hàng trung ương và nó sẽ ghi có vào tài sản có của ngân hàng thương mại. (đọc bài viét ở link trên để hiểu rõ hơn)
Thế thì ví dụ để nó đơn giản hoá lại cái việc này đó là khách hàng mà gửi 100 tr vào NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, nếu cái tỷ lệ DỰ TRỮ BẮT BUỘC nó là 3% thì NHTM phải gửi 3 Triệu dự trữ bắt buộc tại ngân hàng nhà nước, đây là ví dụ mà chúng ta có thể rất dễ hiểu (HÌNH 10)
Thế thì khi mà ngân hàng nhà nước muốn tăng cung tiền thì họ sẽ giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Thế còn tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì sẽ GIẢM CUNG TIỀN.
Và chúng ta hãy nhìn lại các cái tỷ lệ dự trữ bắt buộc tại ngân hàng nhà nước thì các bạn có thể truy cập vào webside của ngân hàng nhà nước
(hướng dẫn: vào trang chủ: https://www.sbv.gov.vn/vi/trang-chu sau đó vào phần LÃI SUẤT -> DỰ TRỮ BẮT BUỘC) https://sbv.gov.vn/vi/d%E1%BB%B1-tr%E1%BB%AF-b%E1%BA%AFt-bu%E1%BB%99c
Và ở đây thì nó sẽ tách ra TIỀN GỬI VNĐ và TIỀN GỬI ngoại tệ, thì chúng ta sẽ xem phần 4 (các cái tổ chức tín dụng khác) thì tất cả các loại tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở phần 4 (Tổ chức tín dung khác):
Đối với từng loại tiền gửi một để chúng ta có thể tìm thấy ở đây, trong đó không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng thì phải dự trữ bắt buộc là 3% (ban nãy tôi lấy ví dụ là 100 tr), kỳ hạn 12 tháng trở lên thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 1%.
TIẾP THEO: HÌNH 12
Khi mà chúng ta nghiên cứu về thị trường tài chính thì chúng ta sẽ nhìn thấy rằng khi mà kiểm soát về chính sách tiền tệ thì các cái thị trường sẽ có liên thông với nhau, đó là, thứ nhất chúng ta hãy nhìn vào thị trường tiền tệ là thị trường của ngân hàng:
ở đây thì thị trường ngân hàng nó sẽ có 2 thị trường, thị trường 1 và thị trường 2
Thị trường 1 thì đó là dân cư và doanh nghiệp: thị trường mà chúng ta gọi là gửi tiền và vay tiền
Thị trường 2 đó là thị trường giữa các ngân hàng thương mại với nhau
Thị trường vốn: bao gồm hai thị trường đó là Thị trường cổ phiếu và Thị trường trái phiếu
Thị trường cổ phiếu thì có phát hành sơ cấp và thứ cấp
Chúng ta hay mua bán cổ phiếu ở thị trường thứ cấp
Thị trường trái phiếu thì cũng có phát hành sơ cấp và thứ cấp
Câu hỏi rằng là nếu như lãi suất của thị trường 1 tăng thì thị trường 2 có tăng không ạ.
Trong tất cả các chỉ số dẫn dắt thì tôi luôn luôn quan trọng chỉ số lãi suất.
Rồi, câu hỏi thứ hai là nếu lãi suất của thị trường tiền tệ tăng thì thị trường vốn có bị ảnh hưởng? Và bị ảnh hưởng gì?
Ai kiểm soát lãi suất của thị trường 1, rồi đó là ngân hàng nhà nước SBV, họ quy định để lãi suất tiền gửi dưới 6 tháng
Thị trường 2 có bị ngân hàng nhà nước can thiệp không ạ, câu trả lời là có và chúng ta hãy xem cái mô hình ở đây (HÌNH 13)
Từ sơ đồ chúng ta thấy SBV (NHNN-Ngân hàng nhà nước) tác động đến các hệ thống NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) qua lãi suất điều hành. (HÌNH 13)
Các ngân hàng giao dịch với nhau: đây là thị trương 2
THỊ TRƯỞNG 1 THÌ BỊ QUY ĐỊNH rất là rõ ràng là dưới 6 tháng không quá 6% đúng k ạ.
Câu hỏi là nếu như mà chúng ta là nhà đầu tư chúng ta phải nhìn vào thị trường nào?
Tôi tạm gọi thị trường [NHNN – NHTM] là thị trường 3:
Thì các bạn chọn 1 hay 2 hay 3
Rồi thị trường mà các Quỹ, các công ty Chứng khoán nhìn vào nhiều nhất đó là thị trường 2, giữa các ngân hàng thương mại với nhau, bởi vì sao? nó có 2 điểm đó là thứ nhất nó không có quy định cứng nhắc, và thứ hai nếu có vấn đề căng thẳng về thanh khoản chúng ta có thể nhìn thấy ngay qua lãi suất.
Đây là lãi suất của thị trường liên ngân hàng:
B1: https://widata.vn/
B2:search ở ô tìm kiếm: [VN] – Lãi suất liên ngân hàng qua đêm (D)
Nào chúng ta hãy cùng xem, nếu các bạn bắt đầu quan tâm đến PHÂN TÍCH VÀ ĐẦU TƯ thì các bạn phải quan tâm đến thị trương liên ngân hàng.
Rồi bây giờ chúng ta cùng thực hành một chút, hãy nhận xét cho tôi lãi suất từ tháng 1 2020 cho tới tháng 3 năm 2022 thì chúng ta thấy gì ở trong bức tranh này. – HÌNH 14
Có 2 cái lãi suất mà rõ ràng nhất trong thị trường liên ngân hàng đó là lãi suất:
Over Night (tức là lãi suất ON hay lãi suất liên ngân hàng qua đêm) hoặc là lãi suất 1 tháng tại vì thông thường phải tốt về thanh khoản họ mới cho vay 1 tháng tại vì thị trường này là thị trường rất là ngắn hạn, họ chỉ cho vay cái dư thừa thanh khoản thôi.
Các bạn biết đây là thời điểm gì mà trong khoảng thời gian này nó lại vọt lên – nhô lên rất là cao không ạ (HÌNH 14), rất đơn giản đây là tết và năm nào tết cũng thế.
Như vậy chúng ta bắt đầu nhìn thấy các vấn đề về lãi suất và các vấn đề thị trường và lãi suất thì chúng ta sẽ hiểu là cái người điều tiết cuộc chơi cuối cùng vẫn là ngân hàng nhà nước, nhưng cái chỉ số leading ở đây thì thông thường các bạn nhìn vào INTER BANK hay còn gọi là thị trường 2 nó sẽ cung cấp tín hiệu liên tục, và trùng với giai đoạn 2020 đến 2022 thị trường chứng khoán rất là thăng hoa ở đây, chứng khoán rất là tăng trưởng (HÌNH 14)
Chúng ta sẽ nhìn thấy cái xu hướng lãi suất (HÌNH 14)
GIẢM – ĐI NGANG và TĂNG rất là mạnh mẽ, nên chúng ta cầm một danh mục đầu tư thì chúng ta cũng phải rất là để ý.
Chúng ta thấy các thời điểm tết (T1-T2) cũng là thời điểm căng thanh khoản.
Chúng ta muốn tìm lãi suất liên ngân hàng ở trang khác Wichart thì tìm ở Ngân hàng nhà nước: họ sẽ có bản tin về thị trường tiền tệ: PHẦM LÃI SUẤT bạn click vào đó nó sẽ ra thông tin lãi suất qua đêm
OK, đây sẽ là một cái Leading educator cho các bạn, mỗi khi mà chúng ta bị mất phương hướng các bạn cứ quay lại cái bản này (HÌNH 12 + 13)
Bản chất chúng ta chỉ cần biết hai cái sơ đồ này thôi thì chúng ta sẽ biết cái xu hướng của lãi suất và các cái công cụ của họ
Thông thường thì lãi suất inter bank nó chạy trước thì sau đó các bank sẽ nâng lãi suất…
B1: https://widata.vn/
B2: SEARCH
[ VN] – LS huy động kỳ hạn 12 tháng nhóm NHTM Nhà nước (D)
Và hãy nhớ rằng thị trường 1 nó sẽ có quy định TRẦN LÃI SUẤT
Tương tự:
B1: https://widata.vn/
B2: Search
Trần lãi suất
TIẾP THEO: HÌNH 14A
Rồi, bây giờ nếu mà thị trường bị căng hoặc là muốn tăng cung tiền thì lúc nãy chúng ta nói rồi, đó là thông qua nghiệp vụ thị trường mở
Ở đây thì có thể cái mô hình này nó dễ hiểu hơn, khi ngân hàng nhà nước mua vào chứng khoán nhà nước (thường gọi là mua vào giấy tờ có giá, trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc trên thị trường mở) thì ngân hàng thương mại bán ra và ngân hàng thương mại cho vay nhiều hơn và sẽ làm tăng cung tiền (NHNN mua vào thì trả tiền cho NHTM, NHTM có nhiều tiền cho vay hơn, tằn cung tiền, đại khái là thế). Thế còn ngân hàng nhà nước bán ra các cái chứng khoán, ngân hàng thương mại mua vào thì sẽ làm giảm cung tiền. Cái này chúng ta sẽ quay lại mô hình chữ T mô hình hoạch toán thì chúng ta sẽ nhìn thấy rất là rõ
HÌNH TIẾP THEO: HÌNH 15
Giấy tờ có giá ở Việt nam thì nó sẽ gồm là trái phiếu chính phủ cũng như là tín phiếu
Trong phần trước thì tôi đã nói rằng là khi mà ngân hàng nhà nước điều tiết lãi suất của hệ thống ngân hàng thương mại thì họ sẽ thông qua lãi suất điều hành thì đây chính là 5 cái lãi suất mà chúng ta cần phải quan tâm. ( HÌNH 16)
1 đó là lãi suất omo
2 là lãi suất tái cấp vốn
3 là lãi suất chiết khấu
4 là lãi suất tín phiếu
5 là lãi suất dự trữ và lãi suất vượt dự trữ bắt buộc (có nghĩa rằng là cái phần dự trữ chúng ta để ở ngân hàng trung ương chúng ta sẽ được lãi và họ sẽ tác động đến lượng cung tiền thông qua yếu tố này – HÌNH 16
Bây giờ tôi sẽ giải thích cái OMO đầu tiên, mọi người cứ tưởng tượng là thị trường liên ngân hàng mà chúng ta quan tâm mà khi lãi suất nó tăng thì họ sẽ bơm qua hoạt động bơm OMO
– HÌNH 17
Có nghĩa là ngân hàng nhà nước mua vào trái phiếu, cho vay VNĐ ra
Thị trường liên ngân hàng: nếu mà cái lãi suất căng quá thì cái ngân hàng nhà nước sẽ bơm tiền thông qua hoạt động OMO
Ở đây sẽ có hai hoạt động
REPO – HÌNH 18 và RESERVE REPO – HÌNH 19
Nó sẽ tuỳ, tuy nhiên thì thông thường người ta thường gọi OMO là hoạt động bơm thanh khoản vào cho hệ thống tức là ngân hàng nhà nước sẽ bơm tiền cho các ngân hàng thương mại
Ở trên wichart thì chúng ta sẽ nhìn thấy đây là cái hệ thống:
B1: https://widata.vn/
B2: Tìm kiếm: [VN] – Lãi suất phát hành OMO (D)
B3: Tích vào ô: OMO đang lưu hành
Nó sẽ gồm 2 phần
1 là giá trị đang lưu hành ( B3)
2 là lãi suất điều hành ( B2)
Chúng ta sẽ nhìn thấy ngay tình hình thanh khoản của hệ thống ngân hàng (XEM SỐ LIỆU THÁNG 1 NĂM 2023 trên biểu đồ vừa tạo)
Khi mà lượng tiền của hệ thống interbank mà bị thiếu thì họ sẽ bơm tiền vào theo các cái hoạt động OMO, phần màu ĐỎ là khối lượng giao dịch.
Cho tôi hỏi giai đoạn 1 hay giai đoạn 2 thanh khoản căng hơn? (XEM HÌNH 21)
Đầu tiên chúng ta cứ nhìn vào hệ thống interbank chúng ta sẽ thấy thanh khoản của đầu tiên của hệ thống ngân hàng đã, chúng ta chưa nói đến cung tiền của toàn bộ nền kinh tế, chúng ta phải tách ra đã, trong thị trường tài chính tôi đã chia rất là rõ, cái mà phát ra tín hiệu nhiều nhất đó là thị trường tiền tệ:
(HÌNH 22)
Các cái tín hiệu thanh khoản ở đây (1 – HÌNH 22) vô cùng rõ ràng và chúng ta xem ngay ngân hàng trung ưng sẽ can thiệt như thế nào (2 – HÌNH 22) để chúng ta xem nó ảnh hưởng đến thị trường vốn nơi mà chúng ta đầu tư nhiều nhất nó ra làm sao (3- HÌNH22)
Thì chúng ta sẽ mở cái chart OMO ra và chúng ta hãy xem, xem rằng là tình hình thanh khoản gần đây nó như thế nào (Chúng ta lấy ví dụ từ năm 2022- 2023)
Chúng ta thấy như hình 23, ở giai đoạn gần tết rồi mà nó đang có xu hướng giảm, OMO ở đây có thời điểm cao nhất lên đến 6,53% (xem hình 24 – hoặc biểu đồ a/c vừa tạo), khi mà giai đoạn trước khi mà căng thẳng chưa có (giai đoạn 1 – HÌNH 21) thì các khối lượng giao dịch nó đang còn rất ít.
Chúng ta chỉ cần nhìn vào một biểu đồ này (hình 20) chúng ta có thể thấy rằng liệu ngân hàng nhà nước có phải bơm tiền không ở giai đoạn đó,
Rồi, đây chính là bơm OMO thông qua thị trường mở (HÌNH 20)
(Giai đoạn căng thẳng thanh khoản và "Lãi suất OMO chạm mức cao 6,53% – hình 24" Bạn sẽ thấy biểu đồ đột ngột giật dựng đứng lên, chạm mức 6% (hình 20), Bước sang nửa cuối năm 2022 (đặc biệt là giai đoạn gần Tết âm lịch, nhu cầu rút tiền mặt của người dân và doanh nghiệp rất khổng lồ), hệ thống ngân hàng đột ngột rơi vào trạng thái "khát tiền" (căng thẳng thanh khoản).
Vì thiếu tiền nghiêm trọng, các ngân hàng phải đua nhau chạy lên NHNN để vay tiền. Nhu cầu vay quá lớn đẩy lãi suất vay OMO vọt lên mức đỉnh điểm (hơn 6%). Lúc này, NHNN buộc phải thực hiện nghiệp vụ OMO – REPO
Nếu NHNN giảm lãi suất OMO: Tức là NHNN đang muốn làm rẻ đi chi phí vay vốn của các ngân hàng thương mại. Điều này khuyến khích các ngân hàng vay mượn nhiều hơn từ NHNN, từ đó có dư địa để hạ lãi suất cho vay ra nền kinh tế, kích thích tăng trưởng.
Nếu NHNN tăng lãi suất OMO: Tức là chi phí vay vốn đắt đỏ lên. Đây là tín hiệu thắt chặt tiền tệ, thường dùng để đối phó với lạm phát hoặc tỷ giá căng thẳng. Các ngân hàng thương mại vay từ NHNN với giá cao thì cũng sẽ phải tăng lãi suất cho vay đối với người dân và doanh nghiệp.)
TIẾP THEO HÌNH 25
Rồi còn nếu thị trường liên ngân hàng đang rất là nhiều tiền (tiền mênh mông)
Thanh khoản đang rất dồi dào (mũi tên màu đen) thanh khoản đang tăng lên như vậy lãi suất có xu hướng giảm (mũi tên màu đỏ) mà ngân hàng nhà nước muốn kiểm soát cái việc đó thì họ sẽ đặt một cái vòi ở đây (HÌNH 25) người ta gọi là hút về tín phiếu tức là SBV bán tín phiếu thu VND về (THU TIỀN VỀ THÌ ÍT TIỀN ĐI). Chúng ta cứ tưởng tượng hệ thống ngân hàng nó giống như 1 bể nước và nếu như mà thanh khoản nó nhiều quá thì nó sẽ dẫn đến trường hợp là NHNN phải hút bớt tiền về (việc bán này không ép, nó là hoạt động bình thường.)
Giai đoạn căng về thanh khoản không thừa tiền lắm (HÌNH 26) thì mọi người sẽ nhìn thấy : tại sao vẫn có ngân hàng bơm OMO và vẫ có ngân hàng bán tín phiếu? tại sao kỳ lạ vậy! (HÌNH 26)
Ví dụ: Lãi suất cao, NHNN vẫn hút tiền? (Nửa cuối 2022 – Đầu 2023) xem thêm hình 27A
– Hiện trạng: Lãi suất qua đêm tăng vọt lên mức rất cao, nhưng NHNN vẫn tiếp tục hút tiền. Điều này tạo ra nghịch lý, vì thông thường lãi suất cao báo hiệu hệ thống đang thiếu tiền và cần được bơm thêm thanh khoản.
– Nguyên nhân: Bối cảnh lúc này là áp lực tỷ giá USD/VND cực kỳ căng thẳng do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất mạnh. Để bảo vệ tiền Đồng, NHNN buộc phải chủ động "hút tiền" ngắn hạn nhằm cố tình đẩy lãi suất liên ngân hàng VND lên cao hơn lãi suất USD. Việc duy trì lãi suất VND ở mức cao giúp triệt tiêu động lực găm giữ đô la, từ đó giảm áp lực lên tỷ giá.
Làm như sau ta sẽ được hình 26, sau đó kéo đến khoảng thời gian 2022-2023
B1: https://widata.vn/
B2: Tìm kiếm: Lãi suất phát hành bill
B3: tích vào Bills đang lưu hành
Tại sao bảo hệ thống thanh khoản ngân hàng tăng mà họ vẫn bán tín phiếu vì mỗi ngân hàng sẽ có nhu cầu và khẩu vị rủi ro khác nhau, nói chung mua tín phiếu mà đc 6% thì quá tốt còn hơn là cho một ông SBV ông ấy vay và không biết bao giờ ô ấy trả lại cho mình
Đây chính là cái việc tăng dự trữ, đẩy tiền về hệ tống ngân hàng trung ương và khi chúng ta hiểu được như vậy thì chúng ta có thể lấy được cái số bơm hút ròng
(để xem được bơm hút ròng chúng ta nhìn cùng với trang chúng ta vừa tạo ở cột NỀN KINH TẾ VIỆT NAM nhìn xuống ở chỗ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ tích vào BƠM HÚT RÒNG
Ở đây tích vào bơm hút ròng chúng ta sẽ có đồ thị hình 27.
Câu hỏi: ví dụ việc bơm hút tiền liên ngân hàng có ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán không?
Trả lời: có đợt HÚT 200.000 TỶ hôm sau thị trường chứng khoán tụt 40 điểm.
Khi họ tác động vạo thị trường 2 (liên ngân hàng) hút 200 ngàn tỷ (hình 12) thì hút tiền từ thị trường vốn về – các thị trường này nó liên thông với nhau (tiền của các công ty chứng khoán vay ở đâu chúng ta cũng biết rồi)
– thứ nhất là có sự liên thông
– thứ 2 là Khi mà chúng ta đi đầu tư chúng ta phải nhìn các cái lãi suất trên thị trường tiền tệ và tình hình thanh khoản trên thị trường tiền tệ, mà muốn xem thanh khoản của thị trường tiền tệ chúng ta phải xem cả cung tiền và đấy là vấn đề của phân tích vĩ mô nó là như vậy.
Đây là hai hoạt động mà nó thể hiện cái thanh khoản rõ nhất
Thế còn những cái như là lãi suất chiết khấu (HÌNH 29)
Có nghĩa rằng là thông thường thì người ta sẽ có cái mức HOẶC mọi người gọi là trần mềm gì đấy tức là khi nào mà mình mang cái giấy tờ có giá ra mình lấy tiền và mình chịu cái lãi suất chiết khấu thì chúng ta sẽ áp dụng lãi suất chiếu khấu
(tỷ lệ lãi suất chiết khấu bây giờ là 3% https://sbv.gov.vn/vi/l%C3%A3i-su%E1%BA%A5t1 )
Thế còn lãi suất taí cấp vốn là như thế nào:
Lãi suất tái cấp vốn có nghĩa rằng: tôi đã chót cho vay của các doanh nghiệp hoặc là của cá nhân và bây giờ tôi không còn cả giấy tờ có giá bao gồm cả trái phiếu để có thể chiết khấu nữa thì tôi sẽ chuyển cái hồ sơ tín dụng của các cái tổ chức đó sang ngân hàng nhà nước để tôi có thể lấy tiền về tôi bù đắp thanh khoản thế thì trong trường hợp đó thì ngân hàng nhà nước sẽ charge anh 4,5%
https://www.sbv.gov.vn/vi/l%C3%A3i-su%E1%BA%A5t1
Hiểu đơn giản, lãi suất tái chiết khấu là mức lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước áp dụng khi thực hiện nghiệp vụ tái chiết khấu các giấy tờ có giá cho tổ chức tín dụng.
Ví dụ, một ngân hàng thương mại đang cần tiền để bổ sung thanh khoản và đang nắm giữ các giấy tờ có giá đủ điều kiện. Ngân hàng có thể đem những giấy tờ này đến Ngân hàng Nhà nước để tái chiết khấu và nhận tiền về trước hạn. Đổi lại, ngân hàng phải chịu một khoản chi phí tính theo lãi suất tái chiết khấu.
Hiện nay, theo thông tin công bố trên Cổng thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, lãi suất tái chiết khấu là 3%/năm.
Còn lãi suất tái cấp vốn thì sao?
Lãi suất tái cấp vốn cũng là một công cụ để Ngân hàng Nhà nước cung cấp vốn cho các tổ chức tín dụng khi họ cần bổ sung thanh khoản.
Có thể hình dung đơn giản thế này: một ngân hàng thương mại đã sử dụng nguồn vốn để cho doanh nghiệp và người dân vay. Đến một thời điểm nào đó, ngân hàng có thể thiếu nguồn tiền ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu thanh toán, trong khi không còn đủ giấy tờ có giá phù hợp để thực hiện nghiệp vụ tái chiết khấu.
Khi đó, ngân hàng có thể vay vốn từ Ngân hàng Nhà nước thông qua nghiệp vụ tái cấp vốn, với điều kiện và hình thức bảo đảm theo quy định.
Khoản vốn mà ngân hàng nhận được từ Ngân hàng Nhà nước sẽ phải chịu lãi suất tái cấp vốn. Hiện mức lãi suất này là 4,5%/năm.
Có thể nói ngắn gọn như sau:
Tái chiết khấu: Ngân hàng có giấy tờ có giá -> đem đến NHNN -> nhận tiền trước hạn -> chịu lãi suất tái chiết khấu 3%/năm.
Tái cấp vốn: Ngân hàng cần bổ sung vốn/thanh khoản -> vay NHNN theo cơ chế tái cấp vốn -> chịu lãi suất tái cấp vốn 4,5%/năm.
(cái chiết khấu khác OMO chỗ nào: cái OMO nó là cái nghiệp vụ có thể mua lại, thế còn vay chiết khấu là khi bạn cầm cái đấy ra là bạn có thể bạn chiết khấu luôn, omo là bạn sẽ mua lại cái sản phẩm đó.)
TIẾP THEO HÌNH 30
Lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước
Tiếp theo, chúng ta có lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc.
Hiểu đơn giản, các ngân hàng thương mại phải duy trì một phần tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước theo quy định. Ngân hàng Nhà nước sẽ trả lãi cho khoản tiền này theo một mức lãi suất nhất định.
Ví dụ, nếu mức lãi suất là khoảng 0,5%/năm, thì đối với phần tiền gửi thuộc diện được hưởng lãi, ngân hàng sẽ nhận được khoản lãi tương ứng từ Ngân hàng Nhà nước.
Ngoài phần dự trữ bắt buộc, nếu ngân hàng gửi thêm tiền tại Ngân hàng Nhà nước thì đó là phần tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc. Phần này cũng có thể được hưởng lãi suất theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Khi các bạn đã hiểu cơ chế này, chúng ta sẽ bắt đầu nhìn thấy một điểm rất quan trọng: Ngân hàng Nhà nước có thể tác động đến thị trường tiền tệ thông qua một “dải” các mức lãi suất.
Nói cách khác, Ngân hàng Nhà nước không chỉ sử dụng một mức lãi suất duy nhất, mà sử dụng nhiều công cụ và mức lãi suất khác nhau để định hướng chi phí vốn, thanh khoản và mặt bằng lãi suất trên thị trường.
TIẾP THEO LÃI SUẤT ĐIỀU HÀNH
Khi chúng ta đã quen thì chúng ta sẽ nhìn thấy rằng là khi mà chúng ta mở hệ thống ra thì chúng ta sẽ nhìn thấy rằng là đâu đó ngân hàng nhà nước đang can thiệp thông quả một cái dải
(tái chiết khấu và cấp vốn) – HÌNH 31
Và cho các cái lãi suất của hệ thống liên ngân hàng nó chạy trong cái dải này
Các lãi suất trên thị trường liên ngân hàng
– Lãi suất qua đêm (Overnight): ngân hàng vay nhau trong thời gian rất ngắn, thường là qua đêm. Đây là mức lãi suất quan trọng nhất để theo dõi thanh khoản hệ thống.
– Lãi suất 1 tuần (1W): các ngân hàng vay nhau trong 1 tuần.
– Lãi suất 2 tuần (2W).
– Lãi suất 1 tháng (1M).
– Lãi suất 3 tháng (3M).
Các bạn sẽ thấy là ngân hàng nhà nước sẽ kiểm soát lãi suất ở trên thị trường liên ngân hàng thông qua các hoạt động, họ sẽ tạo ra cái ben như thế này để họ có thể can thiệp vao thanh khoản của thị trường (HÌNH 31)
THỊ TRƯỜNG LIÊN NGÂN HÀNG:
SET UP BIỂU ĐỒ:
Tương tự thôi:
B1: WICHART.VN
B2: TÌM KIẾM lãi suất liên ngân hàng (ON)
B3: Lãi suất chiết khấu
B4: Lãi suất tái cấp vốn
Chúng ta sẽ có được biểu đồ thế này
(HÌNH 31)
Lãi suất liên ngân hàng chạy trong dải [chiết khấu – tín phiếu; cấp vốn -omo] nôm na thế.
HÌNH 33
(Lãi suất on, lãi suất 1m, Lãi suất OMO, lãi suất tín phiếu)
Chúng ta thấy rằng là LÃI SUẤT ĐIỀU HÀNH – TÍN PHIẾU (màu tím HÌNH 33) bao giờ nó cũng phía dưới đúng k ạ, rồi, ban nãy chúng ta biết rồi, đây là lãi suất để nó hút (lãi suất hút tiền). Mọi người thấy rằng là ngân hàng nhà nước bao giờ cũng để lãi suất tín phiếu để hút những cái thanh khoản thừa ở trong thị trường, tại vì họ đang muốn kiểm soát cái lãi suất, đấy thì mọi người bao giờ cũng thấy cái đường màu tím bao giờ nó cũng ở phía dưới, thế còn cái giai đoạn mọi người sẽ nhìn thấy lãi suất liên ngân hàng bằng 0 (gần bằng 0 rồi nên là họ không phải hút nữa.
(Đường màu tím là "Sàn chặn dưới": Lãi suất Tín phiếu luôn nằm ở dưới cùng biểu đồ để đóng vai trò làm chốt chặn, ngăn không cho lãi suất thị trường rơi tự do.
Cơ chế "Hút tiền": Khi hệ thống ngân hàng ứ đọng quá nhiều tiền mặt, NHNN sẽ phát hành Tín phiếu. Các ngân hàng sẽ lấy lượng tiền dư thừa đó đi mua Tín phiếu để hưởng lãi suất an toàn. Kết quả là tiền thừa bị "hút" bớt ra khỏi lưu thông và cất vào kho NHNN.
Trường hợp lãi suất về sát 0%: Xảy ra khi NHNN chủ đích muốn nới lỏng mạnh tay để kích thích kinh tế bằng cách ngừng phát hành Tín phiếu (ngừng hút tiền). Khi không còn "cái máy hút" nào rút bớt thanh khoản, lượng tiền thừa mứa giữa các ngân hàng sẽ tự động ép chi phí vay mượn (lãi suất liên ngân hàng) rớt xuống đáy gần 0%.)
Thế còn cái trần là bơm OMO, mọi người sẽ quan sát tiếp màu xanh lá cây (HÌNH 33). Lãi suất OMO bao giờ nó cũng cao làm mốc trần. Khi thị trường có vấn đề, mọi người có thấy rằng LÃI SUẤT LIÊN NGÂN HÀNG – ON (overnight) có những giai đoạn vượt cả mốc 8% không? (Ở đây tôi đang xem số liệu 2022-2023 vì nếu a/c không mua tài khoản wichart thì không xem đc số liệu gần đây nên tôi dùng minh hoạ giai đoạn này a/c có thể xem đc – hình 34). Thì ngay sau đó sẽ có những cái hoạt động bơm OMO để kéo lãi suất ON xuống.
Chúng ta sẽ nhìn thấy là ở đây lãi suất ON có nghĩa là lãi suất các ngân hàng cho nhau vay qua đêm, nó là cái lãi suất thể hiện cái thanh khoản hệ thống chân thực và rõ ràng nhất. Các bạn chỉ cần nhìn vào cái lãi suất cho vay qua đêm này thì các bạn có thể đánh giá được ngay tình hình thanh khoản. Ví dụ như thời điểm tháng 10 năm 2022 mà lãi suất cho vay qua đêm lên đến 8,5% thì chắc chắn là lãi suất của thị trường dân cư hoặc lãi suất cho vay margin chứng khoán vô cùng tồi tệ.
Thế bây giờ mình muốn hỏi quan điểm của các bạn về lãi suất ở trong giai đoạn tháng 1 năm 2023 các bạn đánh giá thế nào (HÌNH 35)?
Khi mà chúng ta phân tích tình hình thanh khoản căng hay không căng, chúng ta để ý cái đường tín phiếu. Tín phiếu đang hút ở mức 6% nhưng interbank (lãi suất giao dịch thực tế) lại đang ở mức 5%. Tức là các ngân hàng đang cho nhau vay 5% chứ họ không mua tín phiếu 6% nữa. Tại sao Tín phiếu 6%, OMO 6% nhưng họ vẫn cho nhau vay 5%? Điều này chứng tỏ là thanh khoản của hệ thống ngân hàng đã dồi dào và được cải thiện rất tốt. Đấy là cái điểm mà chúng ta có thể nhìn thấy, đặc biệt là sau ngày 14/12 – là ngày mà FED công bố chỉ tăng lãi suất 0,5%, mọi người sẽ thấy đường Interbank nó hạ nhiệt và đi xuống (HÌNH 36).
Câu hỏi: Sao ON thấp mà họ không mua tín phiếu?
Trả lời: Ngân hàng nhà nước có chào bán tín phiếu ra nhưng không phải ngân hàng nào cũng mua.
Mọi người sẽ nhìn thấy thời điểm mà thanh khoản nó ổn định, ví dụ như từ khoảng tháng 2 đến tháng 6/2022 thì tình hình thanh khoản nó vẫn đang được kiểm soát rất tốt. Tức là LÃI SUẤT ON luôn luôn nằm ở giữa 1 cái khung hành lang: nếu thiếu tiền, lãi suất dâng lên chạm đường OMO màu xanh lá cây, NHNN sẽ bơm tiền ra; thế còn nếu thừa tiền, lãi suất giảm xuống chạm đường tín phiếu màu tím, NHNN sẽ hút tiền về. Tức là thanh khoản của hệ thống ngân hàng nó sẽ chạy lãi suất trong khoảng hành lang này (lúc đó khoảng 1-2%) thì nó không có vấn đề gì. Còn các bạn có thể thấy ở đây (HÌNH 37) bắt đầu từ tháng 7, 8, 9, 10 thanh khoản của hệ thống ngân hàng rất là tệ, và ngân hàng nhà nước phải liên tục phá vỡ hành lang, bơm và hút liên tục để có thể cung cấp thanh khoản.
Rồi đến đây a/c nếu thấy rối thì chúng ta quay lại một chút (HÌNH 13).
Ở mô hình này thì chúng ta đã nhìn thấy dải lãi suất điều hành:
Ở trên là lãi suất OMO (bơm).
Ở dưới là lãi suất tín phiếu (hút).
(Xem hình 13)
Hai hoạt động này là những hoạt động bơm hút diễn ra thường xuyên. Thế còn cái lãi suất chiết khấu hay là tái cấp vốn thì thứ nhất là những cái hoạt động đấy ở Việt Nam sử dụng rất là ít, thứ hai là nó không quá tác động trực tiếp đến thị trường hàng ngày nên mọi người chỉ xem để biết định hướng thôi.
Chúng ta chủ yếu nhìn hai cái lãi suất OMO và lãi suất tín phiếu, nó sẽ tạo thành 1 dải biên. Nếu như ai mà hay trading kỹ thuật thì người ta gọi đó giống như là dải Bollinger Band, và cái lãi suất liên ngân hàng thực tế nó sẽ dao động chạy ở trong dải này.
Ngân hàng nhà nước sẽ điều khiển, lãi suất điều hành sẽ tác động vào thị trường 2 (thị trường các ngân hàng giao dịch với nhau). Thị trường 2 thì nó sẽ chủ yếu giao dịch qua đêm, tức là ví dụ như hôm nay là ngày T thì đến ngày T+1 tôi cho anh vay, thì đến ngày T+1 anh lại phải trả tôi. Kỳ hạn vay mượn này nó chỉ qua mỗi một ngày, người ta gọi là overnight (ON). Lãi suất cho vay qua đêm này phản ánh sự thật: nếu mà lãi suất ON vọt tăng, tức là thanh khoản của các ngân hàng đang có vấn đề. Họ thiếu hụt tiền trầm trọng nên họ mới phải đi vay ngắn như vậy với giá cao. Tất cả các trader trên thị trường interbank thông thường nếu mà họ view (dự báo) xu hướng lãi suất, họ sẽ làm như sau:
Nếu mà chúng ta dự báo lãi suất sắp tới sẽ còn tăng lên tiếp.
Rồi, vậy giả sử chúng ta là ngân hàng đang dư tiền, chúng ta sẽ chọn:
Cho vay kỳ hạn dài (1) hay là Cho vay kỳ hạn ngắn (2)? 1 hay 2?
Tôi ví dụ, hôm nay là ngày 1/1/2022 tôi thấy lãi suất đang 5% và tôi nghĩ là đến 1/2/2022 lãi suất có thể tăng lên là 8%.
Câu hỏi: tôi nên đem tiền đi cho vay 1 tháng hay 2 tháng?
Hôm nay 1/1 lãi suất 1 tháng là 5%, lãi suất 2 tháng tôi nghĩ là 6%, nhưng mà tôi dự đoán rằng sau 1 tháng nữa lãi suất 1 tháng sẽ vọt lên 8%. Vậy tôi sẽ cho vay 1 tháng hay cho vay 2 tháng?
Chắc chắn, khi mà tất cả mọi người đều view lãi suất sẽ còn tăng lên, thì những người có tiền sẽ chỉ chọn cho vay kỳ hạn rất là ngắn (để nhanh chóng thu tiền về rồi cho vay lại với mức lãi suất mới cao hơn).
(Lãi suất lên như này, thì tôi cho vay ngắn thôi, đến kỳ sau tôi lại hy vọng rằng lãi suất lại lên tiếp, lên tiếp…)
Thế thì ở thị trường liên ngân hàng, họ sẽ nhìn vào lãi suất overnight. Nếu mà lãi suất overnight neo ở mức rất cao thì chứng tỏ điều gì ạ? Chứng tỏ các bank có tiền đang găm giữ và nghĩ rằng lãi suất sẽ còn lên nữa, nên họ chỉ cho vay qua đêm với giá cao.
Ví dụ, lãi suất ON đang giao dịch thực tế là 8%, tức là cao vượt ra ngoài mốc trần OMO (ví dụ trần OMO chỉ là 6%). Nhưng tại sao ngân hàng đang thiếu tiền lại không đến NHNN để vay OMO 6% cho rẻ, mà lại phải đi vay rất là gấp qua hệ thống interbank với giá 8%? Chúng ta đã có trần OMO và sàn tín phiếu cơ mà?
Vấn đề ở đây là: vay overnight trên thị trường interbank là giao dịch tín chấp giữa các ngân hàng, không cần chứng từ phức tạp, chỉ cần giao dịch qua hệ thống điện tử là tiền nổi ngay. Thế còn muốn vay OMO thì bắt buộc bạn phải có tài sản đảm bảo là giấy tờ có giá (trái phiếu, tín phiếu) để cầm cố, và còn phải phụ thuộc xem NHNN hôm nay có mở phiên giao dịch bơm tiền hay không, và có trúng thầu hay không. Nên nếu mà ngân hàng của tôi đang thiếu thanh khoản trầm trọng để đáp ứng dự trữ, tôi sẵn sàng đi vay nóng trên interbank với giá 8%. Khi bank thiếu tiền, họ bắt buộc phải chấp nhận lãi suất cao.
Hôm nay phần chính sách tiền tệ tôi đi khá là kỹ nên là chúng ta sẽ dừng lại ở chính sách tiền tệ.
Câu hỏi 1:
Vậy lúc này lãi suất huy động của người dân có bị kéo theo lên luôn không?
Trả lời: Có. Thị trường 1 (dân cư) và thị trường 2 (liên ngân hàng) có sự liên thông trực tiếp. Nếu như ngân hàng của tôi thiếu tiền và thiếu nguồn vốn dài hạn, tôi sẽ phải đi huy động, và chắc chắn lãi suất huy động của tôi tung ra sẽ phải cao để hút tiền.
Khi mà lãi suất trên thị trường 2 nó quá CAO (cao so với kênh OMO), thì các ngân hàng không thể vay mượn nhau mãi được, bắt buộc họ phải quay ra huy động từ thị trường 1, tức là hút tiền từ dân cư và từ doanh nghiệp. Mọi người sẽ thấy rằng, chính vì vậy để tránh cuộc đua lãi suất, NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐÃ CHẶN TRẦN LÃI SUẤT. Đó là lý do tại sao quy định trần huy động tiền gửi dưới 6 tháng chỉ được tối đa 6% là như vậy.
Câu 2:
Chủ thể nào được mua bán ON và OMO?
Trả lời: Đó chính là các tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng (Thị trường 2), giao dịch giữa các ngân hàng với nhau. (Còn nếu có giao dịch OMO thì là ngân hàng thương mại giao dịch với Sở giao dịch của Ngân hàng Nhà nước).
Ở VN thì ngân hàng thương mại sẽ huy động vốn từ dân cư (thị trường 1), sau đó nếu thừa tiền hoặc thiếu tiền sẽ chạy sang thị trường 2 để vay mượn bù đắp tiếp. Còn ở nước ngoài thì cơ chế này nó không hoàn toàn giống như vậy.
Nói về cơ chế đặc thù, hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện đang gộp chung cả chức năng của ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại. Tức là ở Việt Nam, ngân hàng vừa giao dịch ở thị trường 1 (huy động từ dân cư/doanh nghiệp và cho vay tín dụng), phần thừa hoặc thiếu thanh khoản thì mang lên giao dịch ở thị trường 2 để bù đắp; tuy nhiên, luật pháp Việt Nam vẫn cho phép các ngân hàng thương mại được dùng vốn để đầu tư dài hạn (ví dụ họ có thể đem tiền đi đầu tư mua trái phiếu doanh nghiệp). Những hoạt động mua bán chứng khoán/trái phiếu dài hạn như vậy ở các quốc gia phát triển bị cấm đối với NHTM, mà đó là nghiệp vụ tách biệt hoàn toàn của các Ngân hàng Đầu tư (Investment Bank).
Thế còn ở Việt Nam, mô hình ngân hàng thương mại vẫn bao trọn cả nghiệp vụ đầu tư (một số ngân hàng lớn có luôn khối ngân hàng đầu tư nằm ngay bên trong ngân hàng thương mại). Về mặt nguyên tắc quản trị rủi ro quốc tế thì điều này dễ tạo ra rủi ro thanh khoản chéo, nhưng chính vì cơ chế này nên hệ thống thanh khoản của thị trường Việt Nam liên thông toàn bộ thị trường tài chính.
Chúng ta hãy quay lại một chút xíu (HÌNH 22) để hiểu tại sao chúng ta đầu tư chứng khoán mà lại phải đi quan tâm đến thị trường liên ngân hàng:
Chúng ta phải nhìn thấy rằng thị trường vốn (chứng khoán) của chúng ta còn khá non trẻ, và cái lượng tiền được bơm trực tiếp từ thị trường tiền tệ (ngắn hạn) chảy sang thị trường vốn (dài hạn) là rất nhiều. Ở các quốc gia có thị trường tài chính phát triển, họ có Ngân hàng Đầu tư chuyên làm thị trường vốn, còn Ngân hàng Thương mại chỉ tập trung vào huy động và cho vay truyền thống. Do sự liên thông đặc thù này ở Việt Nam, nếu mà tìm kiếm chỉ báo tin cậy nhất ở góc độ đầu tư, thì mình chỉ cần nhìn vào diễn biến thanh khoản của Thị trường Tiền tệ là mình biết ngay thị trường chứng khoán sắp tới sẽ như thế nào. Khi nhìn vào lãi suất liên ngân hàng, mình sẽ biết ngay ngân hàng nhà nước sắp tới sẽ phải can thiệp bơm/hút ra sao, và từ đó mình kiểm tra chéo một lần nữa với lượng Cung tiền M2.
Những kiến thức bóc tách về Cung tiền và Cầu tiền này hầu như ở ngoài thị trường rất ít người chỉ ra sự liên kết cụ thể.
Thực ra, sau tất cả những phân tích chuyên sâu, chúng ta chỉ cần nhớ kỹ mấy điểm cốt lõi sau đây:
Ngân hàng trung ương sẽ tác động lớn nhất đối với nền kinh tế thông qua việc bơm/hút CUNG TIỀN. Thế còn việc điều tiết, tác động trực tiếp vào mặt bằng thị trường tài chính hàng ngày sẽ thông qua các công cụ dải lãi suất như Lãi suất OMO hay Lãi suất Tín phiếu.
Do đó:
Khi mà chúng ta muốn xem tổng thanh khoản của cả một nền kinh tế, chúng ta sẽ nhìn vào biểu đồ Cung tiền M2.
Khi mà chúng ta muốn đo lường thanh khoản ngắn hạn của hệ thống ngân hàng, chúng ta cứ bật biểu đồ Lãi suất hệ thống Interbank (Lãi suất ON – HÌNH 14).
Hai chỉ báo này kết hợp lại sẽ cho chúng ta bức tranh rất cụ thể rằng tình hình dòng tiền trên thị trường chứng khoán sắp tới sẽ thăng hoa hay sụt giảm.
(Các mức lãi suất 1W, 2W, 1M trên liên ngân hàng nó cũng vận động giống như lãi suất qua đêm ON. Nhưng vì đây là thị trường vay mượn nóng bù thanh khoản, nên họ chủ yếu giao dịch kỳ hạn rất ngắn, kỳ hạn 3 tháng hầu như rất ít xảy ra).
Tóm lại, chỉ số của thị trường chứng khoán chịu ảnh hưởng trực tiếp của các leading indicator (chỉ báo dẫn dắt). Nên khi lãi suất interbank vọt tăng, nó sẽ tác động ngay lập tức đến chứng khoán tại vì dòng tiền sẽ bị rút khỏi kênh đầu tư rủi ro để quay về bù đắp thanh khoản giữa các thị trường.
Chúng ta hãy ghi nhớ cái cấu trúc liên thông này (HÌNH 12) là chúng ta sẽ không bao giờ bị lạc lối.
Thị trường tài chính là bình thông nhau giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Thị trường tiền tệ (dưới 1 năm/ngắn hạn) lại bao gồm thị trường dân cư (thị trường 1) và thị trường liên ngân hàng (thị trường 2).
Nên khi thấy thị trường liên ngân hàng căng thẳng thanh khoản, mình phải tìm ra nguyên nhân nó nằm ở đâu:
Thứ nhất, xem có phải là vấn đề mùa vụ không (ví dụ như cận lễ Tết rút tiền nhiều thì căng thẳng là bình thường). Còn nếu trong những lúc bình thường, không có yếu tố mùa vụ mà lãi suất vẫn vọt tăng căng thẳng thì mình phải phân tích rất kỹ xem rủi ro nằm ở đâu (như vụ hút tiền bảo vệ tỷ giá).
Thứ hai, phải quan sát xem sự căng thẳng đó có lan ra làm cho mức lãi suất huy động ở thị trường 1 tăng theo hay không. Nếu lãi suất huy động từ dân cư rục rịch tăng, đó là lúc chúng ta cần cực kỳ thận trọng với danh mục đầu tư.
Bài viết tiếp theo về CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ
và sau đó Sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong các điều kiện kinh tế
(a/c thắc mắc có thể ib zalo 0962721995 Vin Mac
Bài viết được trích xuất và lưu trữ từ trang chính thức CMB Investing – Cố Vấn Đầu Tư VPS. Xem bài viết gốc trên Facebook ↗
Mỗi ấn phẩm Tạp Chí CMB được chắt lọc từ những chiêm nghiệm sống và phân tích đầu tư thực chiến, nhằm đồng hành cùng các anh chị trên con đường tự do tài chính.